Showing posts with label Tài Liệu. Show all posts
Showing posts with label Tài Liệu. Show all posts

Nov 1, 2015

Từ đảng trị tới gia đình trị: cặp đôi hoàn hảo

Từ đảng trị tới gia đình trị: cặp đôi hoàn hảo

Cánh Cò, viết từ Việt Nam
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến nay, một cách nhất quán, Đảng luôn tự phong là giai cấp lãnh đạo, là ngọn đuốc soi đường cho mọi thế hệ, là văn minh và ngay trong hiến pháp của đất nước Đảng cũng “tiếp thu” và chễm chệ trên ấy với điều 4 vững vàng và kiên định.
Mặc những phản đối, những lập luận đưa ra chống lại sự kiên trì đảng trị ấy, trong khi người dân tiếp tục lăn lóc kiếm từng đồng tiền mang dấu ấn của Mỹ dưới ánh sáng Mác Lê, Đảng vẫn như từ lúc mới sinh vẫn oe oe tiếng khóc đòi được bú dòng sữa Xã hội chủ nghĩa, thứ sữa không biết mua đâu mới có.
Tính chất đảng trị được ngay các đảng viên sừng sỏ nhất chấp nhận và đôi lúc, đôi nơi những tuyên bố của họ nhấn mạnh đến vai trò không thể thay đổi của Đảng Cộng sản mà chính họ là người đại diện mang chữ “trị” trên ve áo. Dùng quyền lực của một tập thể hơn ba triệu đảng viên để khống chế đất nước, Đảng được chia nhỏ cho từng con người trong Đảng. Vị trí trong Đảng càng lớn thì mức độ “trị” càng cao.
Có ăn thì có làm là điều hiển nhiên của xã hội thế nhưng việc làm của mỗi đảng viên lại không rõ ràng minh bạch để chứng minh cho đồng tiền mà họ được “ăn”. Từ Tổng bí thư cho tới một chị đảng viên mới tuyên thệ, không ai biết đích xác mình sẽ làm gì trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Thủ tướng hay Chủ tịch nước đều có việc làm cụ thể và vì vậy chịu trách nhiệm cụ thể, còn Tổng bí thư được đặt ra suốt ngày cầm quyển kinh của Đảng để tụng niệm những câu chữ vô hồn và “công tác” duy nhất mà ông ấy giữ là ôm chặt điều 4 hiến pháp.
Đảng lấy tiền ngân sách, ngân sách thu từ dân và tài nguyên của đất nước. Tài nguyên ấy suy cho cùng cũng thuộc về người dân bởi đất nước nhiều lúc chỉ là một huyễn từ rất dễ bị lạm dụng. Mọi của cải vật chất chạy vào túi ngân sách và cái túi ấy có ống thông sang cái túi của Đảng. Mồ hôi nước mắt người dân đang đổ ra để nuôi Đảng và bù lại Đảng đã cố gắng làm điều gì đó cho người dân thấy Đảng cũng có việc làm.
Một trong những việc làm quan trọng nhất mà Đảng chưa bao giờ xao nhãng là bồi đắp và giữ gìn tình hữu nghị Việt Trung, mối tình tuy cay đắng cho dân tộc nhưng lại ngọt ngào giữa hai đảng anh em không gì thay thế được.
Đảng cố hàn gắn những rạn vỡ với Bắc Kinh sau các cuộc chiến tranh nhưng cố gắng nào cũng bị người dân ném đá. Những viên đá nho nhỏ, những cằn nhằn len lén và không được cả nước nghe nên Đảng vẫn bình yên tiếp tục công tác cao cả giữ Đảng của mình: “Giữ nước không quan trọng bằng giữ Đảng”. Đảng “cụ” Phùng Quang Thanh vừa công khai nói trước quốc hội như thế.
Đảng trị xem ra đang bị cạnh tranh, “dòng chủ lưu” ấy có cái tên chính thức là “gia đình trị”.
Hình như số trời đang nhỏ xuống cho dân tộc khi bùng lên một loạt hiện tượng lãnh đạo từ cao tới thấp mang con cái vào chiếm ghế trong chính quyền lẫn trong Đảng. Chính quyền lệ thuộc Đảng là điều hiển nhiên vì Đảng ban chức và lấy lại tiền lại quả từ các chức vụ ấy. Chỉ có Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch nước là … tương đối ngang hàng với Đảng và có lẽ do vậy họ mới mạnh tay ký những quyết định mang con của mình vào những chức vụ “kế thừa”.
Nếu Nông Quốc Tuấn mờ nhạt và bất tài không kham nổi tham vọng của Nông Đức Mạnh thì Nguyễn Thanh Nghị có vẻ được chuẩn bị kỹ lưỡng từng bước để tiến lên thay thế cho ông Dũng. Em Nguyễn Minh Triết tuy non nớt và yếu đuối thể chất nhưng sẽ là một lãnh chúa miền Trung trong tương lai. Nguyễn Thanh Phượng với tấm lưng hộ pháp của Henry Bảo và danh hiệu McDonalds sẽ là thế lực thứ hai sau khi ông Dũng về hưu lo “trồng cây gì, nuôi con gì” như truyền thống dễ thương của người làm cách mạng.
Ông Dũng và gia đình không làm cách mạng, gia đình này đang tiến vững chắc từng bước vào khuôn mẫu “gia đình trị” song song với Đảng để cai trị, chứ không phải điều hành, đất nước.
Mặc dù báo chí đang dẫn thông tin không vui về khuôn mặt kinh tế lem luốc của Việt Nam hôm nay nhưng gia đình ông Dũng có lẽ là nơi duy nhất không thấy có liên quan gì đến họ.
Thứ nhất, chính phủ chỉ còn 45 ngàn tỷ để chi tiêu trong năm nay, số tiền này chỉ là muối bỏ biển so với bộ máy ngốn tiền của Thủ tướng. Thứ hai trong năm qua việc tăng lương chỉ là bánh vẽ vì suốt năm không có đồng nào trong ngân sách được sử dụng vào việc này.
Báo chí dẫn lời chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng ngân sách hiện nay không còn tiền để đầu tư và đây là điều nguy hiểm. Ngân sách khó khăn đến mức "tận diệt" doanh nghiệp chứ không phải là tận thu nữa, nhiều doanh nghiệp không còn sức để làm ăn.
Hình như cảm động việc khó khăn của doanh nghiệp sắp bị tận diệt nên chính phủ xin phát hành 3 tỷ đô la trái phiếu để bù vào ngân sách, tuy nhiên món nợ 16 tỷ mà ngân sách phải trả trong hai năm sắp tới vẫn chưa biết cấu véo vào đâu để có.
Mà cũng có thể do tình trạng khẩn cấp này mà gia đình Thủ tướng được chú ý hơn chăng? Ai cũng biết Thanh Phượng giàu nứt đố đổ vách cộng với tương lai đầy “hứa hẹn” khi Phú Quốc thành nơi ăn chơi số một dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của anh Nghị thì có gì mà gia đình này làm không được?
Có thể họ sẽ bỏ tiền riêng ra vực dậy kinh tế Việt Nam trong vài lãnh vực nào đó để lấy điểm, trước khi lấy tiền từ các món đầu tư béo bở?
Có điều đáng buồn: đảng trị hợp với gia đình trị trở thành một cặp đôi hoàn hảo và chúng ta tiếp tục bị “chúng trị” không biết đến bao giờ.
Cánh Cò, Việt Nam 23/10/2015

Aug 19, 2015

Đánh giá chính sách của Obama đối với châu Á

FOREIGN AFFAIRS
Sept/Oct 2015

Obama and Asia
Confronting the China Challenge
Thomas J. Christensen
 
THOMAS J. CHRISTENSEN is William P. Boswell Professor of World Politics of Peace and War at Princeton University and the author of The China Challenge: Shaping the Choices of a Rising Power (Norton, 2015), from which this article is adapted. From 2006 to 2008, he was U.S. Deputy Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs.
 
China’s rise poses two broad challenges for U.S. foreign policy: how to deter the People’s Republic from destabilizing East Asia and how to encourage it to contribute to multilateral global governance. Although China is not yet a military peer competitor of the United States, it has become powerful enough to challenge U.S. friends and allies in East Asia and to pose serious problems for U.S. forces operating there. And although China is still a developing country with significant domestic problems, it has become an important enough actor that its cooperation is necessary to solve global problems such as nuclear proliferation, climate change, and international financial instability.
At the end of President George W. Bush’s second term, the U.S.-Chinese relationship was heading in the right direction on both fronts. Under President Barack Obama, significant progress has been made on some issues, but the U.S.-Chinese security relationship and the Asia-Pacific region in general are far more tense today than they were at the start of 2009. That is not necessarily the Obama team’s fault, however, because Chinese actions bear much of the blame. China emerged from the global financial crisis cocky on the international stage but insecure at home, a toxic combination that has made managing relations with it even more difficult than usual. With some exceptions, the Obama administration has generally done well under what have been extremely difficult circumstances. The next administration will face the same double challenge and will need to build on its predecessor’s accomplishments and learn from its successes and failures.
TALK ISN’T CHEAP
China weathered the financial crisis much better than the United States and other great powers, increasing its confidence in international interactions. But the crisis also worried Chinese elites about the sustainability of a domestic growth model that was so reliant on export markets and large infusions of capital. Since jettisoning communist economic principles in 1978 under Deng Xiaoping, moreover, the Chinese Communist Party has been more reliant than ever on nationalism for legitimacy, and the Western origins of the crisis, together with China’s successful response, led many in China to think that the time had come to stop deferring to others and instead assert Beijing’s interests more forcefully. China is no democracy, but Chinese leaders cannot entirely ignore these voices—particularly when the crisis increased Beijing’s concerns about maintaining economic growth and social stability over the long term and underscored the need for controversial measures to avoid a slowdown. The result is that Beijing has become more assertive in staking its claims in the East China and South China Seas and has reacted more sharply to the assertion of claims by others.
On global governance, a Chinese leadership that feels strong on the international stage but scared at home has been even more reluctant than usual to pay economic and political costs to help stabilize the global economy, mitigate climate change, punish rogue regimes and aggressive states, and pressure nuclear proliferators. Nor does it help that China is persistently asked to contribute more to such efforts by a collection of much wealthier countries, former enemies, and current rivals.
In dealing with these formidable challenges, the Obama administration has a mixed record. It has been particularly effective in bolstering the U.S. diplomatic presence in the Asia-Pacific region and has contained and managed tensions well when they have cropped up. But the administration has also made some notable mistakes, particularly in the areas of rhetoric and public diplomacy. Those errors have rendered China even pricklier and have further reduced the prospects for cooperation with the United States.
During its first term, the administration adopted overly muscular language about “pivoting” back to East Asia as the United States withdrew from the wars in Afghanistan and Iraq. At the most basic level, this was inaccurate—the United States had never left Asia and therefore did not need to pivot back to it. In fact, many of the policies later associated with the so-called pivot—such as sending more submarines to Guam, rotating F-22 aircraft through Japan, sending littoral combat ships to Singapore, entering a free-trade pact with South Korea, and negotiating the Trans-Pacific Partnership—were in the works before Obama took office. But there were some new and positive elements added to the mix. The Obama administration sent top officials to Asia more frequently than its predecessor; improved relations with Burma (also called Myanmar); signed the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, the founding document of the Association of Southeast Asian Nations; joined the East Asia Summit; and saw to it that the EAS and the ASEAN Regional Forum, often dismissed as talk shops, actually addressed important security issues.
Still, none of these laudable diplomatic moves required the exaggerated language about a pivot, which fed into Chinese conspiracy theories about alleged U.S. containment and encirclement. Ironically, the language also created problems with U.S. partners in Asia. They were supposed to be reassured, but because the United States had unwittingly suggested that it could not handle two problems at once, predictably some of them now worry that the United States might pivot away again whenever problems arise in other regions. To its credit, the administration recognized its mistake and dropped the term “pivot,” replacing it with the more benign “rebalance,” but much of the damage had already been done.
This was not the administration’s only linguistic stumble. After a top administration official publicly called for the United States and China to reassure each other in the security realm in September 2009, the administration agreed to a Chinese request for a joint statement during Obama’s trip to China in November of that year. Most of that statement turned out to be a list of unobjectionable common interests and aspirations. But one section of the document seemed both new and ill advised: “The two sides agreed that respecting each other’s core interests is extremely important to ensure steady progress in U.S.-China relations.” Among the items Beijing defines as its core interests are the continued monopoly on power of the Chinese Communist Party and the protection of the country’s territorial integrity and sovereignty. The United States does not take measures to incite political turmoil in China, but Washington still promotes political liberalization and a move away from one-party rule. And although there is nothing wrong in principle with the United States’ respecting China’s territorial integrity, there are important aspects of Beijing’s sovereignty claims over Taiwan; the Diaoyu Islands (known in Japan as the Senkaku Islands); and the islands, rocks, shoals, and waters of the South China Sea with which the United States does not agree. Realizing that invoking “core interests” was a mistake, senior U.S. officials stopped using it after the summit—but Chinese elites have often invoked the term in complaints that Washington has gone back on its word.
The Obama administration’s initial attempts at reassurance backfired by creating false expectations in China that the new administration was going to be much more accommodating than its predecessors. These hopes were dashed when, in early 2010, the Obama administration behaved in a very traditional manner, selling arms to Taiwan, criticizing Beijing for infringing on Internet freedom, and arranging for the president to meet with the Dalai Lama. Because of the earlier positive rhetoric, this continuation of standard policy came as a real disappointment in China, feeding feelings of betrayal and producing domestic demands for a tougher foreign policy.
WAKING UP THE NEIGHBORS
These days, tensions in East Asia are significantly greater than they were in January 2009, and the United States finds itself using military assets on a fairly frequent basis to send signals to Beijing about U.S. interests in the East China and South China Seas. But despite Chinese complaints to the contrary, these tensions were not manufactured in Washington, and at various times, the Obama administration has adopted constructive policies to reduce them.
In 2010, for example, Beijing’s ham-fisted moves managed to alienate most of China’s neighbors. When North Korea attacked South Korea twice, killing South Korean sailors, soldiers, and citizens, Beijing appeared to try to shift the blame to Washington and Seoul and protect Pyongyang from any international consequences. At first, the Obama administration wisely asked China to cooperate on reining in North Korea. But when Beijing demurred, Washington turned to Japan and South Korea to coordinate a reaction to Pyongyang’s belligerence, which ultimately led to enhanced intelligence cooperation among the three countries and U.S.–South Korean exercises in the Yellow Sea. Beijing did not like the tightening alliances that North Korean aggression was creating in its neighborhood, and so it reportedly stepped in to dissuade Pyongyang from carrying out further threatened provocations in December 2010.
Beijing has also acted abrasively toward its neighbors in various sovereignty disputes. At the ASEAN Regional Forum in July 2010, U.S. Secretary of State Hillary Clinton noted that although the United States took no position on the sovereignty disputes in the South China Sea, it expected them to be managed peacefully. She called for the creation of multilateral confidence-building measures and codes of conduct and requested that all the disputants clarify their claims in ways consistent with international law. This constructive and well-formed position was widely supported in Southeast Asia but elicited a bullying diplomatic response from the Chinese foreign minister. Beijing thereby alienated China’s southern neighbors and made them all the more willing to cooperate with the United States and with one another in ways that might have long-term payoffs for U.S. interests in the region.
Chinese-Japanese relations, meanwhile, grew tense after Japanese authorities arrested the captain of a Chinese fishing boat near the Diaoyu/Senkaku Islands in September 2010. To temper China’s reaction, the United States reiterated its long-standing policy toward the islands: it takes no position on their underlying sovereignty but recognizes Japan’s administrative control, and so Article 5 of the U.S.-Japanese defense treaty applies there. The message was clear: China should be careful about how far it goes in coercing Japan to engage in negotiations. A couple of years later, China reacted harshly once again, this time to the purchase of some of the islands by the Japanese central government from a private Japanese family. Anti-Japanese protests and riots broke out in China, and Beijing lashed out diplomatically at the alleged “nationalization” of the islands. Beijing increased its activities in the sea and air around the islands and eventually declared an air defense identification zone in the East China Sea that covered the disputed area. The sudden, clumsy, and provocative rollout of the zone was criticized by the United States and other countries in the region, and Washington dispatched B-52 bombers to the area to underscore its continued freedom of navigation there. The tensions between China and Japan in the East China Sea were useful in Washington’s effort to urge Tokyo to assume a larger role in its alliance with the United States. But the Obama administration also reportedly tried to keep Japan from escalating matters further. This carefully calibrated set of responses has not resolved the dispute, but it has kept the situation from boiling over and made it more tractable. Today, China and Japan seem to be following an agreed-on protocol of patterned patrols around the islands, and tensions seem more manageable.
Elsewhere in the region, as in its dealings with the Philippines over the Scarborough Shoal, Beijing has exploited provocations by others to attempt to legitimize Chinese efforts to consolidate control over territory that China has long claimed but not administered. At other times, as in its 2012 announcement of a new administrative unit covering the mostly uninhabited Paracel and Spratly Islands and the Macclesfield Bank, China has acted assertively even without any clear provocation.
Recently, China has triggered worries throughout the region by pursuing large-scale land reclamation and infrastructure projects on disputed reefs, leading U.S. Secretary of Defense Ashton Carter to castigate Beijing at the May 2015 Shangri-La Dialogue, an international security forum held annually in Singapore. The Obama administration is generally correct to criticize provocative Chinese behavior and consistently assert the international community’s freedom of navigation in the East China and South China Seas. And it is smart to respond to controversial Chinese moves by reenergizing its regional alliances, strengthening partnerships with nonallies, and helping its local partners develop capabilities to monitor and counter Chinese assertiveness. Such a course does not immediately solve the region’s problems, but it might eventually help Beijing recognize the benefits—to everybody—of returning to a less aggressive, more reassuring course, like the one it followed for most of the first decade of the new millennium.
ALL TOGETHER NOW
When it comes to eliciting Chinese cooperation on global governance issues, such as nonproliferation, intervention in regional and civil conflicts, and climate change, the Obama administration’s record is mixed.
On nuclear proliferation, there have been nothing but setbacks in getting China to help halt North Korea’s development of nuclear weapons and delivery systems but more progress on easing Iran toward a negotiated pause of its nuclear program. China has signed on to relevant UN resolutions against both countries, albeit only after working to water them down. More important, it continues to provide an economic lifeline to Pyongyang and Tehran.
Chinese President Xi Jinping seems to have warmer relations with South Korea than North Korea and has downgraded China’s traditionally special relations with Pyongyang. This is a welcome development, especially after the government of his predecessor, Hu Jintao, sidled up to Pyongyang even when it was attacking South Korea. Yet China trades and invests more in North Korea today than it did in 2008, providing enough support to make U.S. and allied sanctions lose their bite. Beijing and Washington worked closely together on North Korean denuclearization in the six-party talks, particularly from 2006 to 2008, but those talks broke down in the last year of the Bush administration and have not been revived since. After three years of not talking, the Obama team concluded that that approach wasn’t working either, and so in the “Leap Day” arms control agreement of February 2012, the administration made a generous offer to restart negotiations. This was quickly scuttled by North Korea’s use of ballistic missile technology in a satellite launch, but the administration deserves some credit for pursuing a good-faith effort and thereby making clear to all reasonable observers where the true roadblock lies.
International pressure on Iran’s economy has increased sharply during the Obama years. Not wanting to get entangled in U.S. or European domestic sanctions laws that target third parties as well as the target in question, Chinese energy firms reduced purchases from Iran in 2012 and 2013. But Beijing views such laws as illegitimate and seemed to be searching for opportunities to do business with Iran despite them. And Beijing sharply increased its energy purchases once the thaw between Tehran and Washington began in late 2013. China was the only member of the P5+1 talks (which also included France, Russia, the United Kingdom, the United States, and Germany) that was both a net energy importer and willing to have normal economic relations with Tehran in the absence of a full nuclear agreement. The motivation for its ramped-up deals with Iran was probably largely economic, but its increased energy purchases during the negotiation process nevertheless reduced pressure on the Islamic Republic to accept the kind of permanent and fully verifiable nuclear deal preferred by U.S. and European negotiators.
As for interventions in regional and civil conflicts, at the end of the Bush years, China seemed to be slightly softening its traditional opposition to interference in the internal affairs of other countries. In 2006 and 2007, it began pressuring Khartoum to accept a UN peacekeeping plan for Darfur and then contributed the first non-African peacekeepers to that effort. In late 2008, China agreed to join a multilateral naval operation in the Gulf of Aden to fight piracy, which allowed for hot pursuit into Somali territorial waters. It seemed that Beijing might be warming up to the idea of becoming, in the words of former U.S. Deputy Secretary of State Robert Zoellick, a “responsible stakeholder” in the international system from which it was benefiting so greatly.
This trend continued into the Obama administration, when Beijing shocked practically everyone by voting in the UN Security Council in early 2011 to refer Muammar al-Qaddafi’s regime in Libya to the International Criminal Court for its brutal suppression of a rebellion during the Arab Spring. The Obama administration and the Europeans had wisely rallied support in the African Union and the Arab League for the referral before approaching China, and Beijing appeared reluctant to alienate so many fellow postcolonial nationalists by opposing the resolution. From that peak, however, things went swiftly downhill. When the NATO allies increased pressure on Libya by proposing UN-sponsored military action to protect the population of Benghazi, China abstained in the UN vote. When NATO air forces then exceeded the UN mandate by throwing their full support to the Libyan opposition, resulting in Qaddafi’s ultimate capture and killing, China felt betrayed by the UN process. Beijing subsequently joined Moscow in actively opposing U.S. and European efforts to move against the Assad regime in Syria. Later, in Ukraine, China focused more on foreign support for the Euromaidan revolution in Kiev than on the Russian intervention, and China opposed sanctions against Russia after its annexation of Crimea.
In short, any time the Obama administration has seemed to embrace a policy of regime change as heartily as the first-term Bush administration did, China has stopped supporting multilateral responses to regional and civil conflicts and pulled back to its earlier aloofness. This shift has fed back into China’s nonproliferation policy as well. Chinese elites now argue that it is natural for the Kim regime to want to avoid the fate of Qaddafi, who had given up his nuclear weapons program several years before his demise. So they deflect criticism that Beijing has not pressured North Korea sufficiently by emphasizing the failure of the United States and its allies to provide sufficient security assurances to Pyongyang.
Climate change, in contrast, represents a major bright spot in the U.S.-Chinese relationship. At the 2014 Asia-Pacific Economic Cooperation summit, Obama and Xi reached what might prove to be a historic agreement on greenhouse gas emissions. China committed itself to reaching peak carbon emissions by around 2030 and pledged to generate 20 percent of its future electricity from noncarbon sources. The United States, in turn, pledged to cut its total greenhouse gas emissions by 26 percent by 2025 from a 2005 baseline. These pledges from the two biggest emitters of greenhouse gases are essential to creating momentum for the 2015 UN Climate Change Conference, to be held in Paris at the end of the year. And no matter how disappointingly late the target date for Chinese commitments might seem to environmental activists, getting any numerical commitment from China was a tough slog for U.S. negotiators and represents a major accomplishment for American diplomacy. At the 2009 Copenhagen Climate Change Conference, after all, China had rallied emerging economies and developing countries against any such constraints, and its economy is large enough that its free-riding would scuttle any global deal.
LESSONS LEARNED
The Obama administration can also point to progress on various smaller issues in the U.S. relationship with China, from improved military-to-military ties, to meaningful dialogues on how to avoid incidents at sea, to the groundwork for an eventual bilateral investment treaty, to more easily secured visas for business travel and tourism. But it is the broader challenges posed by China’s rise—and the Obama administration’s successes and failures in addressing those challenges—that provide some lessons for future policy.
In order to bolster regional security and dissuade China from settling its disputes through coercion, the United States needs to maintain a robust presence in Asia and build stronger military, diplomatic, and economic ties with allies and other regional partners, even as it avoids overly dramatic actions and rhetoric that might suggest that its efforts are designed to contain China. When trying to gain Chinese support for multilateral global governance initiatives on proliferation or regional and civil conflicts, Washington should focus not on regime change but on the proscribed behavior of the states in question. When possible, it should gain support from regional organizations before approaching China in such endeavors (as the Obama administration did in regard to Libya). On climate change, meanwhile, Washington should try to get Beijing to mitigate its greenhouse gas emissions by leveraging Chinese leaders’ concerns about related domestic problems, such as low-altitude urban smog.
The starting point for the United States’ China policy needs to be a recognition that the People’s Republic has become a great power with a large dose of nationalist pride but remains a developing country with enormous domestic challenges and insecurities. The financial crisis of 2008 exacerbated both these contradictory realities, making dealings with Beijing even trickier than before. But future conflict is hardly a certainty, and the odds of it can be reduced by a combination of U.S. strength and diplomatic awareness of the likely limits of Beijing’s willingness to cooperate with the United States and its allies in East Asia and beyond.

Danh sách Con Ông Cháu Cha "khủng" ở Việt Nam

Danh sách Con Ông Cháu Cha "khủng" ở Việt Nam.

 - Lâm Văn Bé
CON CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG

 Chúng tôi bắt đầu với người có nhiều quyền lực, gian xảo và tham nhũng nhất nước hiện nay là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.



Lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng thật mù mờ. Trên trang mạng của Nguyễn Tấn Dũng ghi là sinh năm 1949 tại Cà Mau, nhưng ngôi nhà tự nguy nga của Dũng thì ở Rạch Giá. Ông Hoàng Dũng, một cán bộ Văn phòng Trung ương đảng đã làm việc với nhiều ủy viên cao cấp trong đảng, đã tiết lộ nhiều bí mật về đời tư của nhiều người lãnh đạo. 

Về Nguyễn Tấn Dũng, ông viết : «Theo cụ Nguyễn văn Linh, Tổng Bí Thư, thì trong thời gian Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Liên khu ủy Khu IV từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng và cụ còn cho biết là Nguyễn Tấn Dũng còn có một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Cũng trong tài liệu nầy, ông Hoàng Dũng tiết lộ là có gặp nhiều lần Nguyễn Tiến Thắng (Tư Thắng) là em của Nguyễn Tấn Dũng (Ba Dũng). Ông viết về Tư Thắng như sau : Điều tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài Loan hoạt động chui tại VN là First China Bank. Như vậy, có thể hiểu được đây chính là «sân sau» của Ba Dũng và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhắm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam Bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngã Đài Loan… 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy (Paris), căn cứ vào sự nâng đỡ tận tình của tướng Lê Đức Anh (chủ tịch nước 1992-1997, nay đã hơn 90 tuổi nhưng vẫn còn uy thế trong Trung ương đảng) lại đưa giả thuyết không những Nguyễn Tấn Dũng mà cả Nguyễn Minh Triết đều là con rơi của Lê Đức Anh (cần phân biệt với tướng Lê Hồng Anh, là đàn em được Dũng cất nhắc cho làm Bí Thư Tỉnh Rạch Giá, rồi phong quân hàm đại tướng, Bộ trưởng bộ Công An cho đến tháng 8/2011)

Dù là con của ai, căn cứ vào lý lịch và đường hoạn lộ thênh thang của Dũng, chắc chẳn Dũng là con rơi của một cán bộ cao cấp cộng sản. Lúc 12 tuổi, Dũng đã bỏ học (vừa học xong bậc tiểu học) đi làm du kích, y tá cứu thương ở vùng Cà Mau rồi chính ủy tiểu đoàn, trung đoàn ở vùng Cà Mau, tiến lên đến Tỉnh ủy Kiên Giang. Trong thời gian nầy (1980-1985), Dũng đã có công bắt nhóm Trần Văn Bá (bị xử tử), Mai Văn Hạnh được tha trở về Pháp vì là bạn học cũ của thủ tướng Pháp thời đó. Ngoài ra, Dũng còn tổ chức những cuộc vượt biên bán chính thức ở Rạch Giá và Hà Tiên để làm giàu cho đảng và cho cá nhân. 

Nhờ Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh cất nhắc, Dũng được đưa về trung ương làm Thứ trưởng Công An (1995-1996), Thống đốc Ngân hàng, Phó Thủ Tướng rồi Thủ Tướng (thay thế Phan Văn Khải) từ tháng 11-2006 và được tái cử trong kỳ đại hội đảng lần thứ XI (2010). Thử tưởng tượng một người vừa học hết tiểu học (sau nầy có học trường đảng cho có lệ, nhưng trong lý lịch ghi là Cử Nhân Luật), mà được đưa lên làm thống đốc ngân hàng trong thời kỳ kinh tế Á châu bị khủng hoảng, và thủ tướng của một quốc gia có nhiều liên hệ với các cường quốc, thì phải hiểu là việc lãnh đạo quốc gia đối với cộng sản là việc riêng của đảng.

Ngoài ra, Nguyễn Tấn Dũng lại là người có nhiều mưu trí và thế lực trong Trung ương đảng, là đảng viên cao cấp duy nhất sớm gởi con du học ở Mỹ và làm sui gia với Việt kiều, điều cấm kỵ tối hậu của đảng. Báo chí thuật lại trong lần họp hội nghị APEC năm 2006, Tổng Thống George Bush chúc mừng xỏ xiên Dũng có con du học ở Mỹ và lấy Việt kiều, Dũng bối rối phải chống chế là con trai đi học bằng học bổng (có lẽ để biện hộ với lương của thủ tướng độ 1000 mỹ kim thì làm sao có thể cho con du học) và lờ đi chuyện con gái lấy Việt Kiều.

Đứa con mà Bush nhắc đến là Nguyễn Thanh Nghị, tốt nghiệp Tiến sĩ Kỹ sư công chánh (Structural Engineering) ở đại học George Washington University, và khi về VN giảng dạy tại đại học Kiến Trúc thành phố HCM, rồi Phó Hiệu Trưởng (Phó Khoa Trưởng) trường nầy. Trong đại hội đảng lần thứ XI, Dũng đã dọn đường lãnh đạo cho con bằng cách đưa Nguyễn Thanh Nghị vào làm ủy viên dự khuyết trong Trung ương đảng và ngày 11-11-2011, Dũng đã bổ nhiệm con trai mình làm Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng mặc dù bộ nầy đã có 5 thứ trưởng (Dũng đã hèn nhát không ký tên trên nghị định bổ nhiệm mà sai phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thay). Tại VN hiện nay, hai mỏ vàng để hốt bạc và tham nhũng là ngành xây dựng (đất đai và địa ốc) và hải quan. Về mặt kinh tế, từ nhiều năm nay, Nghị có liên hệ mật thiết với Công ty Betexco là đại công ty xây cất các tòa nhà chọc trời ở Saigon và HàNội. Tầm hoạt động của Betexco còn bao trùm cả kỹ nghệ may dệt, vô chai và thủy điện. Như vậy, Nguyễn Thanh Nghị là cột trụ chính trị và kinh tế cho gia đình Dũng và cho đảng Cộng Sản.

Đứa con lấy Việt kiều tên là Nguyễn Thanh Phượng, du học ở Thụy Sĩ, đậu MBA ở International University in Geneva là đại học có liên kết với Michigan State University (cô chỉ đến Mỹ năm 2004 trong 2 tuần để nhận bằng từ đại học nầy chớ không có du học tại Mỹ). 
Tháng 1 năm 2006, lúc mới 26 tuổi, Phượng đã làm Giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị trên 100 triệu MK của các nhà đầu tư Thụy Sĩ tại VN. Đến tháng 11 cùng năm, Phượng làm Chủ tịch Quỹ đầu tư chứng khoán Việt (Viet Capital Fund Management Joint Stock Company, viết tắt là VCFM) gồm hàng ngàn tỷ bạc (VN) của các nhà đầu tư và công ty người Việt. 

Công điện Wikileaks tiết lộ là trong báo cáo của Tổng Lãnh sự Hoa kỳ tại Saigon là Seth Winneck gởi về Bộ Ngoại giao ngày 26/12/2006 đã viết : « Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn khổng lồ như thế cho một người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm như Phượng. Và câu trả lời hiển nhiên là về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản trị là một điều khôn ngoan bởi lẽ quỹ nầy tập trung những ngành mà chánh phủ kiểm soát như dầu khí, ngân hàng và truyền thông »

Năm 2011, Phượng 31 tuổi là một tỷ phủ, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công ty Chứng khoán Bản Việt sở hữu 6,5 triệu cổ phần chiếm 43,2% vốn của công ty, Chủ tịch HĐQT Công ty bất động sản Bản Việt và vài ngày trước khi người anh được cử là thứ trưởng, Phượng được đề cử vào HĐQT Ngân hàng Bản Việt ( trước có tên là Gia Dinh Bank) với số vốn là 3000 tỷ VN. Với các thành tích trẽn, Phượng là nhà doanh thương trẻ tuổi kỳ tài nhất của thế giới !

Người chồng của cô Phượng là Nguyễn Bảo Hoàng (Henry Nguyen) con của Việt kiều «tội đồ» Nguyễn Bang (Nguyễn Tấn Dũng đã gọi Việt Kiều Nguyễn Cao Kỳ là tên tội đồ). Henry Nguyễn là Tổng Giám Đốc Điều Hành công ty IDG Ventures với số vốn là 100 triệu MK (sau tăng lên 200 triệu) phần lớn do người anh rể là Thomas Connor, một tài phiệt Mỹ đã làm ăn với Bộ Viễn Thông Bưu Chính Việt Nam, kiểm soát hầu hết hệ thống thuê bán Internet và truyền thông tại VN. Thomas Connor đã một lần khai phá sản, nhưng số đầu tư vẫn gia tăng, do đó câu hỏi đặt ra phải chăng các công ty do vợ chồng Phượng-Hoàng quản trị là cửa ngõ hợp pháp cho cha vợ và đồng bọn rửa tiền, tẩu tán tài sản tham nhũng ra ngoại quốc.

Đứa con thứ ba của Dũng là Nguyễn Minh Triết, học kỹ sư hàng không ở đại học Queen Mary tại Anh Quốc, và đã có giữ chỗ ở Bộ Quốc Phòng khi về nước. Gia đình Nguyễn Tấn Dũng là điển hình của chế độ con vua thì lại làm vua tại VN hôm nay.

CON CỦA NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ NÔNG ĐỨC MẠNH

Trong kỳ hợp đảng lần thứ XI còn có một 4C thứ hai cũng được bầu là Ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, tạo nên nhiều tai tiếng là Nông Đức Tuấn, con trai của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (2001-2010). Cá nhân Nông Đức Mạnh cũng đã là một 4C, con rơi của Hồ Chí Minh với Nông thị Ngát, bí danh là Nông Thị Trưng. Được báo chí hỏi có phải Mạnh là con tư sinh của Hồ Chí Minh hay không, Mạnh đã trả lời lửng lơ «Ở đất nước nầy ai chẳng là con cháu của Bác».

Nông Đức Tuấn sinh năm 1963, người dân tộc Tày, đã đi lao động xuất khẩu tại Đông Đức từ lúc 18 tuổi, lúc ấy Nông Đức Mạnh đã làm Tỉnh ủy tỉnh Bắc Thái. Sở dĩ cha làm quan mà đưa con đi lao động xuất khẩu vì cha muốn đưa con ra ngoài nước để cai nghiện khỏi xấu hổ. Từ khi trở về nước cuối năm 1988 cho đến năm 2008, Tuấn lêu bêu với mấy chức vụ trong Đoàn Thanh niên và Ủy Ban Sắc tộc. Để dọn đường cho con trai làm lãnh tụ, Nông Đức Mạnh «dàn xếp » với Thủ Tướng Dũng cử Nông Đức Tuấn làm Phó tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang vào tháng 4 năm 2009. Vận may đến với Tuấn là khi người thanh niên tên Nguyễn Văn Khương bị công an tỉnh Bắc Giang đánh chết và dân chúng xuống đường đòi nợ máu với chánh quyền, Tỉnh ủy Bắc Giang tên Đào Xuân Cẩn bị ép buộc từ chức để nhường ghế Tỉnh ủy cho Tuấn. Khi Đại hội Đảng họp lần thứ XI, tuy Mạnh bị mất chức Tổng Bí Thư nhưng lại gài được cho con vào ghế Ủy viên Trung ương, mở đường cho chế độ cha truyền con nối dòng họ Nông.

CON CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN

Lê Duẩn là người Tổng bí thư cầm quyền lâu nhứt của chế độ Cộng Sản VN. Từ 1960 đến 1976, Lê Duẩn là Bí Thư thứ nhứt của đảng và từ sau 1976, chức vụ được đổi là Tổng bí thư, chức vụ mà Duẩn nắm giữ cho đến khi Duẩn mất năm 1986. Trong lý lịch các nhân vật cao cấp cộng sản, Duẩn cũng như Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí được xếp vào hạng vừa dốt, vừa độc tài và đa thê. Vì nhiểu vợ, Duẩn có nhiều con, trong số có nhiều người giữ các chức vụ quan trọng trong chánh phủ và cơ sở kinh tế đầu não. 

Theo Hứa Hoành, thuở sinh thời, Lê Duẩn có ba vợ, bà vợ chính tên Cao thị Khê ở Quảng Trị cưới khi Duẩn 20 tuổi, có em là Cao Xuân Diệm, sau nầy trở nên Trung tướng công an bí danh Dương Thông phụ trách đàn áp văn nghệ sĩ. Bà thứ hai là Đỗ Thị Sảnh. Năm 1942, khi hoạt động trong Nam, Lê Duẩn dùng thủ đoạn cưới thêm bà Thụy Nga, cháu gọi ông Đỗ Hữu Vị (đại úy phi công VN đầu tiên trong quân đội Pháp).

 Ngoài ba bà vợ, Lê Duẩn còn lăng nhăng với nhiều người khác, trong đó có bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con của Hồ Viết Thắng, Phó chủ tịch Ủy ban kế hoạch nhà nước trong thập niên 80. Theo nhà văn Xuân Vũ, bà Thụy Nga đã có người yêu nhưng bị Lê Đức Thọ dàn xếp lừa bà vào một căn lều vắng để Lê Duẩn đến cưỡng hiếp khiến bà phải chịu làm vợ ba. (Hoàng Dung, tr.83, 84)

Trừ Lê Hãn, Giám Đốc Tiếp Liệu cho các trường quân sự nay đã về hưu, các người con khác của Lê Duẩn đảm nhiệm các chức vụ béo bở như sau :

– Lê Kiến Trung : Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hải quan Thành phố HCM, hiện nay là Phó Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An.

– Lê Kiến Thành : là tỷ phú, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Techcombank (1994-2004), chủ tịch Công ty xây dựng và phát triển đô thị và hiện nay là Tổng Giám Đốc Công ty chế biến thực phẩm Thái Minh. Ngoài ra, Thành còn là Phó Chủ Tich thường trực Hội Golf Việt Nam, một loại kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận do các 4C độc quyền nắm giữ. 

Báo chí trong nước hồi tháng 10/2011 xôn xao vì Lê Kiến Trung đã công kích và nói xách mé Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải là Đinh La Thông khi ông nầy cấm nhân viên của Bộ Giao Thông chơi golf. Bức thư của Lê Kiến Thành có đoạn như sau :«Vấn đề giao thông thấp kém lạc hậu, đầu tư vào giao thông như muối bỏ bể, một con đường quy hoạch cho 30000 dân, giờ phải tải cả triệu người, điều nầy đã tồn tại ngót 30 năm nay. Hẳn ông Bộ Trưởng cũng biết golf mới du nhập vào VN chừng 10-15 năm nay, vậy trước khi có golf điều gì đã ảnh hưởng tới chất lượng lãnh đạo của cán bộ giao thông vận tải. Chơi golf không có tội, lãnh đạo trước hết phải thượng tôn pháp luật» 

Việc tranh chấp giữa ông con của cựu bí thư bố già và ông bộ trưởng khoác lác là điễn hình của chế độ luật rừng và thế lực của 4C tại VN hôm nay.

– Lê Thị Muội : Hoàng hữu Quýnh trong tác phẩm «Tôi bỏ đảng» đã viết về cô gái nầy như sau : Trong số du học sinh VN tại Liên Sô có 3 đứa con của Lê Duẩn, học dốt nhưng lại đài các nhất. Đó là Lê Hản học tại đại học quân sự không quân, Lê thị Hồng và Lê Thị Nga.

Lê thị Hồng có tên thật là Lê Thị Muội. Là con đẻ của anh Ba, nhưng Lê thị Hồng không đồng quan điểm với ba mình. Triết lý sống của Lê thị Hồng là sống phải cho ra sống. Phải được thoải mái về mặt tinh thần. Về vật chất phải có miếng ăn ngon, phải mặc đẹp và phải biết tận hưởng mọi hạnh phúc khi tình yêu đến. Hồng đi nghỉ hè và «hành nghề» tại hải cảng Sochi trên bờ biển Hắc Hải. Không chỉ Hồng làm cái «nghề đó», các nữ sinh Liên Sô cũng vậy (Tôi bỏ đảng, tr.105). Khi về nước, Lê Thị Muội được cử làm Phó Bộ Trưởng bộ Nội Thương.

– Lê Vũ Anh tên thật là Lê Thị Nga: du học ở Nga, cãi lời cha ở lại lấy ông thầy người Nga tên Marlov, sau đó chết vì tai nạn xe cộ. Người ta đồn cái chết nầy do Lê Duẩn ra lịnh giết để giữ uy tín cho ông, (Hoàng Dung, tr. 131) không muốn cho con kết hôn với người ngoại quốc, điều cấm kỵ của đảng, ngay cho người ngoại quốc đó là người Nga. Điều nầy cho thấy việc Nguyễn Tấn Dũng làm sui gia với Việt kiều là một dấu hỏi lớn, phải chăng đảng đã cho phép để tẩu tán tài sản tham nhũng của đồng bọn.

Con của Lê Đức Thọ 

Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải là anh của Phan Đình Đồng (bí danh là Mai Chí Thọ) và Phan Đình Dinh (bí danh là Đinh Đức Thiện). Cả 3 anh em đều không coi trọng dòng họ của tổ tiên, giữ bí danh cho đến khi chết, thậm chí con của Lê Đức Thọ vẫn mang họ Lê là Lê Nam Thắng hiện là Thứ Trưởng thường trực Bộ Thông Tin và Truyền Thông (nghĩa là thứ trưởng số 1, ưu tiên thay Bộ Trưởng). 

Mai Chí Thọ là Đại Tướng, trùm Công An miền Nam sau 1975, còn Đinh Đức Thiện được phong là Thượng Tướng, giữ nhiều chức vụ cao cấp mà chức vụ sau cùng là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Như vậy cha con chú cháu đều nắm giữ các chức vụ then chốt trong đảng và chính phủ.

Lê Đức Thọ và Lê Duẩn có nhiều điểm giống nhau : độc tài, gian xảo, cầm quyền sinh sát trong đảng lâu năm (từ 1948 đến 1986), có vào Nam công tác (Xứ Ủy Nam Bộ 1948-54, chính ủy cuộc đại tấn công miền Nam 1975) và đặc biệt là dâm đảng.

Ông Bùi Tín nói rõ là 2 bà vợ của Lê Đức Thọ ở chung một nhà trên đường Nguyễn Cảnh Chân, Hànội, xưa là biệt thự của viên Hiệu trưởng trường Albert Sarraut, cùng ăn chung một bàn với ông chồng và con cái theo tinh thần Nam-Bắc đề huề. Đúng là một nhà tổ chức đại tài. (Mặt Thật, tr.177).

Trong Lớn lên với đất nước, tác giả Vy Thanh, một cựu đảng viên, sau trở về thành, du học ở Mỹ và trở về nước làm Tổng thơ ký một đại học VNCH xác nhận là Lê Đức Thọ đã dùng những thủ đoạn đê tiện hãm hiếp nữ cán bộ khi làm Xứ Ủy Nam Bộ. «Một đêm chị Thanh đang ngủ, bác Sáu (tức Lê Đức Thọ, mà trong khu gọi là Sáu Búa, chú thích của người viết) mò vô mùng chị. Chị sợ quá tốc mùng chạy la làng, làm lối xóm náo động. Đội bảo vệ bắn súng như Tây tới …» (Vy Thanh, tr. 290)

CON CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

Tên là Nguyễn Chí Vịnh, sinh năm 1957, là con út của tướng Nguyễn Chí Thanh, và là em một cha khác mẹ với Nguyễn Tấn Dũng như lời đồn đãi Dũng là con rơi của Nguyễn Chí Thanh. Vịnh học ở trường đại học quân sự ở Vĩnh Yên, nhưng chưa tốt nghiệp, được tướng Lê Đức Anh, nguyên Bộ trưởng bộ Quốc Phòng rồi sau là Chủ Tịch nước nhận làm con nuôi (cũng giống như trường hợp của Dũng). 

Nguyễn Chí Vịnh kết hôn với con gái của Đặng Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng Cục 2 là một cơ quan có quyền hành vô hạn và ngân sách khổng lồ bao trùm các hoạt động tình báo, quốc phòng, kinh tế, văn hóa của nước. (Cộng Sản có nhiều Tổng cục (TC) như : TC An Ninh, TC Cảnh Sát, TC Tình Báo, TC Xây Dựng, TC Hậu Cần…Mỗi Tổng Cục có nhiều Cục, thí dụ như TC An Ninh có cục A25 đặc trách về báo chí, Cục A18 kiểm soát ngoại kiều và Việt kiều, Cục A41 đặc trách về tôn giáo, Cục A24 chuyên về kiểm tra, xét hỏi, Cục A42 theo dõi bắt bớ những người chống chế độ. Những Tổng Cục trưởng và Cục trưởng đa số là ủy viên Trung ương đảng hay hàng họ với lãnh đạo cao cấp).

Đặng Vũ Chính đưa cả gia đình vào nắm các chức vụ then chốt của Tổng Cục. Con rể là Nguyễn Chí Vịnh là Tổng Cục Phó, con trai là Đặng Vũ Dũng từ lao động xuất khẩu trở về nước giữ chức Giám đốc Công ty xây dựng Hồng Bàng, hai con gái là Đặng Thị Mai và Đặng Thị Tuyết mang quân hàm đại úy phụ trách công tác mật, vợ gốc là con buôn đảm nhiệm giám đốc Khách sạn Hoàng Đế và chi nhánh công ty Decatour ở miền Trung. Riêng Nguyễn Chí Vịnh, với sự nâng đỡ tận tình của cha vợ và cha nuôi được thăng cấp từ đại úy lên đại tướng trong một thời gian kỷ lục mà trong lịch sử quân đội chưa bao giờ có. Khi Đặng Vũ Chính về hưu, Nguyễn Chí Vịnh lên thay làm Tổng Cục Trưởng.

Bộ ba Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, Lê Đức Anh dùng nhiều thủ đoạn tinh vi như thu âm lén điện thoại, chụp ảnh (như khi Lê Khả Phiêu tằng tịu với 2 nữ nhân viên trong phái đoàn công du sang Pháp) để làm áp lực khuynh đảo các ủy viên trong Trung ương đảng hay các đối thủ bởi lẽ tất cả các chóp bu của đảng đều làm điều phi pháp, tham nhũng. Nhóm nầy còn tạo chiến dịch hạ nhục Võ Nguyên Giáp như Giáp là con nuôi của trùm mật thám Pháp Marty, Giáp là tướng bất tài, sợ chết (trong trận Điện Biên Phủ, Giáp nằm trốn trong hầm để cho Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái chỉ huy, nhưng khi thắng trận thì giành công; khi đánh Mỹ thì sợ bom nên không dám vào Nam), tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà nầy đến dạy dương cầm. Sau khi làm mưa làm gió ở Tổng Cục 2, Vịnh được chuyển qua làm Thứ trưởng bộ Quốc Phòng và được đưa vào Ủy viên Trung ương đảng kỳ đại hội XI.

Nguyễn Chí Vịnh còn có người chị tên là Nguyễn Thị Thanh Hà có thời là Phó Cục Trưởng Cục Hàng không Việt Nam.

CON CUA NGUYÊN CHỦ TỊCH LÊ ĐỨC ANH 

Lê Đức Anh hiện là «bố già» trong đảng cộng sản mafia, là người lãnh đạo quân sự và chính trị cộng sản từ hơn nửa thế kỷ qua, cực kỳ thân Trung Quốc. Cả 2 ông đại tướng tên Anh (Lê đức Anh và Lê hồng Anh) đều là hai cây dù của Nguyễn Tấn Dũng (Đức Anh là dù to, Hồng Anh là dù bọc hậu) và cả hai đều xuất thân là phu cạo mủ cao su ở Hớn Quản.

Con trai của Lê Đức Anh là Lê Mạnh Hà hiện là Phó Chủ Tịch Ùy Ban Nhân dân TP HCM. Ông Hà được học bổng Fulbright du học ở Harvard từ 1998 đến 2000. Con dâu là Nguyễn thị Đoan là Phó Chủ tịch nước (thay Trương Mỹ Hoa) từ 2007 đến 2010. Bà Đoan có tiến sĩ ở Bulgarie và có tu nghiệp ở Pháp.

Được vào ủy viên Trung ương đảng là bảo đảm một chức vụ cao cấp, béo bở trong chánh phủ nên cuộc chạy đua vào chức vụ nầy thường diễn ra trong hậu trường với nhiều cuộc liên kết phe nhóm, tranh chấp ác liệt và đòn phép bẩn thỉu. Ngoài các nhân vật vừa kể, trong đại hội đảng lần thứ XI còn có các tân ủy viên sau đây :

– Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976 là con của Nguyễn Văn Chi, Ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Kiểm Tra trung ương. Nguyễn Xuân Anh nhảy vọt từ Bí thư huyện Liên Châu (Đà Nẳng) đi thẳng vào Trung ương đảng. Tháng 7/2011, Anh được bổ nhiệm Phó chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẳng và chắc chẳng bao lâu sẽ là chủ tịch, nắm giữ thành trì của miền Trung.

– Trần Sĩ Thanh, sinh năm 1972. Phó bí thư tỉnh ủy Darlac là cháu của Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ Tướng (Nguyễn Sinh Hùng là cháu của Hồ Chí Minh). Darlac hiện nay là một vùng béo bở, có nhiều tài nguyên và nhiều cơ sở kỹ nghệ của ngoại quốc đã và sẽ thành lập tại đây.

– Trần Bình Minh : Phó Tổng giám đốc đài truyền hình VN là con trai của Trần Lâm, nguyên Tổng giám đốc đài Tiếng nói VN.

– Nguyễn thị Kim Tuyến, Thứ trưởng Bộ Y tế là cháu ngoại của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập.

Điểm đáng lưu ý là Cộng Sản đặt chỗ cho con cháu trước tiên vào ghế số 2 ở mỗi cơ quan bằng các chức vụ như phó (Phó Tổng Cục, Phó Cục, Cu Phó Giám đốc, Phó ban..), hay thứ (Thứ Trưởng) để chờ khi các ông số 1, vốn đang có những dù lộng cũng to để chiếm chỗ khi các ông số 1 về hưu, được điều động đi nơi khác để nhường chỗ, hay bị hất chân khi cái gốc không còn đứng vững.

Những hình thức « truyền ngôi » cho con cháu, hàng họ trong chế độ Cộng Sản

Không thể nào kể hết chi tiết các tên họ những 4C, bởi lẽ chế độ con ông cháu cha cộng sản chằng chịt ngang dọc từ trung ương đến địa phương như những dây leo, hay đúng ra như những tế bào độc hại của bịnh ung thư tràn lan khắp cơ thể, chúng tôi xin tóm tắt tổng quát cách truyền ngôi, tập quyền và tản quyền của hệ thống 4C theo như tổ chức mafia dưới 3 hình thức chính yếu là: tham chính, lập công ty kinh doanh, kết thông gia và bè đảng.

*Tham chính

Thông thường, những người có học, có khả năng thường được đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy trong các cơ quan của đảng hay chính phủ. Ngoài những nhân vật kể trên, cần kể thêm một số nhân vật đang tại chức hay vừa rời chức vụ gần đây.

– Nguyễn Thiện Nhân : Phó thủ tướng là con của y sĩ Đông Dương Nguyễn Thiện Thành, gốc người tỉnh Trà Vinh (có tài liệu ghi là Biên Hòa) một cán bộ cao cấp cộng sản đã tham gia từ phong trào Việt Minh. Mặc dù Nguyễn Thiện Nhân đậu tiến sĩ ở Đông Đức và có tu nghiệp ở Harvard, đã bị mất chức Bộ Trưởng bộ Giáo Dục vì bất tài nhưng lại thích phô trương, đã đưa nền giáo dục VN đến chỗ lạc hậu, nhưng vẫn được tiếp tục lưu nhiệm chức vụ Phó thủ tướng, đúng như lời mỉa mai của giáo sư Hoàng Tụy, một nhà giáo dục được trong nước và ngoại quốc nể trọng : Bộ giáo dục (ý nói ông Nhân) trơ như đá, vững như đồng.

– Phạm Bình Minh : hiện là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao, con của Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn Cương), phụ tá cho Lê Đức Thọ trong hội nghị hòa đàm Paris và là Bộ Trưởng bộ ngoại giao sau đó (1980-1991). Có tin là con của Phạm Bình Minh cũng đang du học ngành ngoại giao hi vọng nối nghiệp cha ông.

– Trần Tuấn Anh : nguyên lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kỳ (San Francisco) là con của chủ tịch Trần Đức Lương.*

* Lập công ty

Những con cháu cán bộ cao cấp không có khả năng học vấn hay thiếu đạo đức (thực ra ông cha cũng đã thiếu đạo đức, nhưng thành phần các ông con nầy trác táng, lêu lỏng, không thể đảm nhiệm vai trò chỉ huy) thì quay ra kinh doanh, lập công ty. Thực ra những công ty nầy chỉ là bình phong để lợi dụng danh nghĩa của ông cha mà làm giàu phi pháp. Số 4C loại nầy thì kể sao cho hết bởi tràn lan khắp nơi ăn chịu với khắp các cơ quan. Chỉ đan kể vài tên con cháu của các cấp lãnh đạo ở Trung ương đảng.

Con rể của Võ Nguyên Giáp
Tên là Trương Gia Bình, là một tỷ phủ, giám đốc công ty FPT, là một trong những công ty lớn nhất nước cung cấp dịch vụ internet, truyền thông.

Con rơi của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt
Võ văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, người được xem là cấp tiến, mở đầu cho phong trào đổi mới kinh tế. Nhân nói đến đứa con rơi của Võ văn Kiệt tên Phan Thành Nam, tưởng cần nói qua về đạo đức tồi tệ của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản.

Ông Hoàng Dũng, Thư ký Văn phòng Trung Ương đảng đã viết về lai lịch của Phan Thành Nam như sau : Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ biết rằng cụ Hồ gặp những khó khăn và thiếu thốn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình với người vợ cũ ở Trung Quốc nhưng bị phản đối, do vậy bộ Chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt từ thuở còn thanh niên, cụ Hồ đã có một mối tình rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật nầy đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết «Đi tìm Út Huệ»). Biết thế nên lúc nầy Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục miền Nam phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một số cô gái còn trẻ đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong bộ Chính trị (đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ). Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt nầy. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc có một cô còn trẻ và sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lỡ thì cô gái đã có thai mấy tháng, thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là Phan Thành Nam.

Phan Thanh Nam hiện nay là một tỷ phú đỏ, Tổng Giám Đốc Công Ty quốc doanh Tracodi, chuyên về «xuất khẩu lao động», xuất cảng hàng hóa, xây cất và du lịch.

Điều cần nói thêm là ông Kiệt cũng có chính thức 2 vợ : bà vợ cả tên là Trần Kim Anh và 3 đứa con đã chết trong chiến tranh, chỉ còn lại đứa con gái tên là Võ Hiền Dư. Ông lấy vợ kế là Phan Lương Cầm nổi tiếng tham nhũng được các công ty đặt tên là Bà Mười Cầm vì tất cả các dự án đầu tư đều phải đóng «hụi chết » cho bà ít nhứt 10%.

Con của nguyên thủ tướng Phan Văn Khải

Tên là Phan văn Tỵ tục danh là Hoàng Tỵ là một tay du đãng chọc trời khuấy nước, có lần vì tranh giành địa bàn buôn lậu đã bắn chết Phạm Văn Hưng là sĩ quan công an, con của Phạm Thế Duyệt cũng là đảng viên trong Trung ương đảng, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Về kinh doanh, Hoàng Tỵ lợi dụng thế lực của cha và của các đồng chí của cha, nhập cảng lậu xe hơi cũ rồi tân trang lại bán sang Trung Đông, nhập cảng xe đạp mới nguyên chiếc từ Thái Lan, Singapore đem tháo ra từng bộ phận rồi lắp ráp lại (bởi luật VN lúc ấy chỉ cho phép bán xe đạp lắp ráp ở VN), bán với giá gấp đôi gấp ba. Hoàng Tỵ cũng là chủ nhân của hai đại khách sạn Hoàng Gia và Planet ở Saigon và HàNội, cho du khách ở tại hai khách sạn nầy được ưu tiên khỏi bị xét hỏi khi đến và khi rời phi trường. Nhờ tất cá mánh khoé và thế lực, Hoàng Tỵ cũng là một tỷ phú.

Con của Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng bộ Quốc Phòng

Phùng Quang Thanh xuất thân là một bộ đội không có học thức nhưng nhờ phe cánh thân Trung Cộng trong đảng nên được phong quân hàm đại tướng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng từ nhiều năm nay. Con trai của Phùng Quang Thanh là Phùng Quang Hải, lý lịch cũng không ghi học lực và trường đào tạo, nhưng mang cấp bậc Thượng tá, là Tổng giám đốc Công ty xây dựng 319 là một công ty quốc doanh bao gồm hơn mươi công ty hoạt động trong lãnh vực xây cất, cung cấp vật dụng cho quân đội và các cơ quan chính phủ trên địa bàn khắp nước. Đây là một nguồn lợi khổng lồ cho gia đình họ Phùng và các phe cánh trong đảng để tham nhũng và độc quyền các lãnh vực béo bở.

Nếu cần phải kể thêm thành tích của những 4C vì ăn chia không đồng đều bị tố cáo hay bị ra tòa, hay bị làm vật tế thần thì có mấy vụ gần đây như Mai Văn Dậu, Thứ trưởng Bộ Thương Mại bị ra tòa cùng với con là Mai Thanh Hải vì tham nhũng trong việc xuất nhập cảng, Đoàn Văn Kiểm, chủ tịch Hội đồng Quản Trị Tập đoàn Than – Khoáng sản bị bãi chức vì cho phép em là Đoàn Duy Thức khai thác quặng mỏ trái phép, Phạm Thanh Bình, chủ tịch Hội Đồng Quản trị Tổng đoàn Công nghiệp Tàu Thủy VN bị bắt giam vì bổ nhiệm con trai là Phạm Bình Minh (một Bình Minh khác, không phải là Bình Minh con Nguyễn cơ Thạch) vào công ty Vinashin, Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng bộ Bưu Chính Viễn Thông, bị cảnh cáo vì cho con rể là Hoàng Minh gian lận trong việc trúng thầu.

Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị bằng bạo lực và áp dụng luật mafia ngay trong hàng ngũ đảng viên cao cấp của họ theo kiểu mạnh được yếu thua. Trong sự phá sản hàng tỷ mỹ kim của công ty Vinashin, người chịu trách nhiệm là Nguyễn Tấn Dũng thì không hề hấn gì trong khi bộ trưởng Phạm Thanh Bình bị bắt giam vì một sự bổ nhiệm. Vụ ăn hoa hồng trong việc in giấy bạc polymer ở Úc (12 triệu Úc kim) liên hệ đến nguyên Thống đốc ngân hàng Lê đức Thúy đã có bằng chứng rõ ràng thì chẳng ai bị tù tội.

Lãnh đạo Việt Nam hôm nay làm trò hề và gây ô nhục cho đất nước mà không biết nhục. Vũ Văn Hiến, Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc Truyền hình VN gởi con gái tên Kiều Trinh sang Thụy Điển tu nghiệp bị cảnh sát Thụy Điển bắt vì ăn cắp trong siêu thị, bị báo chí trong nước phanh phui nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Văn hóa – Du Lịch của đài truyền hình, chưa kể Hiến đưa bè đảng vào cơ quan để tham nhũng, bị nhân viên các cấp tố cáo nhưng vẫn bình chân như vại.

*Kết thông gia và bè đảng

Người Việt Nam ta có câu Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những cán bộ cao cấp gian manh thường tìm gần nhau để hợp quần gây sức mạnh trong công cuộc trấn áp, bốc lộ lương dân. Những cuộc liên kết giữa các cán bộ qua các cuộc hôn nhân là một hình thức lưu chuyển quyền hành và tham nhũng theo hàng ngang và hàng chéo đến độ hệ thống tham nhũng Việt Nam hôm nay là những loại ung thư đang tàn phá một cơ thể chỉ chờ ngày bị tiêu hủy toàn diện. Dĩ nhiên không sao kể hết loại liên kết nầy, chỉ cần đan kể vài thông gia gần đây tạo nhiều tai tiếng to lớn.

Tại Việt Nam, nhắc đến tướng công an Nguyễn Đức Nhanh là người dân kinh sợ và khinh bỉ vì chánh sách đàn áp lương dân và tham nhũng của tên trùm công an nầy (đàn áp giáo dân Thái Hà). Nhanh đảm nhiệm 2 chức vụ : Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (tổng cục 1 : lo về tình báo hải ngoại, tổng cục 2 : lo về an ninh quốc nội) kiêm Giám Đốc Công An TP HàNội. Nguyễn Đức Nhanh kết thông gia với Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng bộ ngoại giao, Chủ tịch Ủy Ban nhà nước về người VN ở nước ngoài. Như vậy hai gia đình thông gia nầy đảm nhiệm vai trò chiến lược của đảng Cộng Sản và chánh phủ Việt Nam.

Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch Quốc hội (2002-2007) là con của Trương Văn Đẩu, Tỉnh ủy viên Gò Công (cũng gốc là phu cạo mủ cao su) có em là Trương thị Hiền, Hiệu trưởng trường Cán bộ TPHCM, kết hôn với Lê Thanh Hải, Ủy Viên Trung ương đảng, Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Lê Thanh Hải làm sui với Huỳnh Ngọc Sỹ nổi tiếng trong vụ tham nhũng xây xa lộ Đông Tây nối liền từ Bình Chánh đến Saigon, qua Thủ Thiêm chạy đến Cát Lái trên đường về miền Tây. Xa lộ nầy do Nhật viện trợ và giao cho công ty Nhật PCI xây cất, Huỳnh Ngọc Sỹ làm quản lý. Lúc đầu, Sỹ đòi hối lộ 15%, sau sụt xuống 10% và đã nhận 2,6 triệu MK thì bị báo chí Nhật phanh phui, 4 người đại diện công ty Nhật bị Nhật bắt giữ vì đưa hối lộ. Chánh phủ Nhật đòi Việt Nam phải có biện pháp chế tài với người nhận hối lộ là Huỳnh ngọc Sỹ nhưng VN vẫn binh vực Sỹ khiến Nhật trả đũa bằng cách ngưng tất cả tiền cho vay ODA và đòi lại 30 triệu tiền viện trợ, điều hiếm có trong lịch sử bang giao quốc tế. 

Trước áp lực của các quốc gia viện trợ cho VN và Mỹ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đành phải miễn cưỡng đưa Sỹ ra tòa với án chung than khổ sai, sau giảm xuống 20 năm tù. Thì ra Sỹ chỉ là vật tế thần của một tập đoàn tham nhũng, mà những án vụ tham nhũng như thế chỉ là hạn hữu trong số ngàn ngàn vụ tham nhũng chẳng bao giờ bị phanh phui bởi được bao che từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và 700 cơ quan truyền thông trong nước chỉ là bầy két lập lại luận điệu của nhà cầm quyền. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có một vài ngoại lệ khi báo chí đăng tin tham nhũng liên quan đến 4C, hoặc vì nhà báo có lương tâm, hoặc vì thanh toán nội bộ bởi chia phần không sòng phẳng. Thí dụ như trường hợp khi báo chí đăng tin tiền in của công ty TechBank của Lê Đức Minh là con của nguyên thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy không có phẩm chất thì hai tờ báo Thời Đại và Công Lý bị đình bản, và 6 tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, An Ninh Thủ Đô, Công Luận…bị cảnh cáo.

Về chuyện nhà báo bị khủng bố vì dám đá động đến việc tham nhũng của các 4C, tưởng cũng nên nhắc lại một vụ tham nhũng lớn bị phanh phui cách đây 5 năm, nhưng vụ án đã bị ém nhẹm vì liên quan đến các thủ phạm ở chóp bu, nhưng hai phó tổng biên tập của báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt giam và 5 phóng viên bị thu hồi thẻ hành nghề vì tội phá hoại an ninh quốc gia. Vụ tham nhũng bị vở lở khi công an bắt được 2 cầu thủ cá độ ngày 13/12/2005 và cuộc điều tra cho biết Bùi Tiến Dũng, Tổng Giám ĐốcĐơn vị Quản Lý các dự án PMU-18 đã chi tiêu 2,6 triệu trong trò chơi cờ bạc nầy. PMU-18 (Project Management Unit) trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) là cơ quan phụ trách thực hiện xây cất các dự án cầu đường với số vốn 20 tỷ gồm ngân sách quốc gia và quỹ tài trợ ODA của Nhật, Tây Âu và Ngân hàng Quốc Tế (World Bank). 

Bùi Tiến Dũng là con trai của Bùi Thiện Ngộ, Bộ trưởng Bộ Công An, cấu kết với Nguyễn Việt Tiến (Thứ trưởng Bộ GTVT), Phạm Tiến Dũng (Trưởng phòng tài chánh), rể của Nguyễn Việt Tiến cùng với Phạm Hoàng Hải, rể của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Việt Bắc, rể của Đào Đình Binh (Bộ trưởng Bộ GTVT) cùng với nhiều bạn bè hàng họ lập ra hàng chục công ty để trúng thầu dù các công ty nầy không khả năng và không vốn. 

Tài sản tham nhũng của Nguyễn Việt Tiến, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Việt Bắc, mỗi người trên trăm triệu MK. Báo Thanh Niên tiết lộ là có ít nhất 40 quan chức cao cấp liên quan đến vụ tham những khổng lồ nầy. Bị gọi ra thẩm vấn trước tòa án, Bộ trưởng Đặng Đình Binh tuyên bố «Tôi thuộc diện Trung ương quản lý» có nghĩa là chỉ trả lời với trung ương đảng mà thôi. Ngoài ra, 2 đảng viên cao cấp là tướng Cao ngọc Oánh, Cục trưởng Cục điều tra C15, Phạm Xuân Quấc, Cục trưởng Cục điều tra C14 cũng bị dính liếu, nhưng được miễn truy tố, rốt cuộc chỉ có Bùi Tiến Dũng và các « tép riêu» bị lãnh án.

Lâm Văn Bé

Aug 17, 2015

Hồ Chí Minh có thực là người Tài, Đức?

Ông Hồ Chí Minh có thực là người Tài, Đức?


Bà Đầm Xòe

I.THẾ NAÒ LÀ NGƯỜI TÀI, ĐỨC?

Người Bình thường và người Tài, Đức có ranh giới rất rõ ràng.
Người Bình thường là người nghĩ và làm những việc bình thường. Trong xã hội số này luôn chiếm số lượng tuyệt đối.
Người Tài, Đức là người nghĩ và làm những việc vĩ đại mà những người Bình thường không nghĩ và làm được. Trong xã hội số này luôn chiếm thiểu số tuyệt đối, gần bằng không, tức hiếm lắm.

35 triệu năm qua, hàng tỷ con người đã sống và đã chết ở trái đất này, trong đó số lượng người Tài, Đức của chủng tộc Người chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay.
Người Việt Nam ta cũng vậy. 35 triệu năm qua có cả tỷ người đã sống và chết trên mảnh đất hình chữ S này, nhưng số lượng người Tài, Đức được dân tộc định vị, tôn vinh, cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Người tài hiếm đến mức, ai đã học qua lịch sử Việt Nam đều có thể xòe tay mình ra đếm hết số lượng người Tài. Đức mà không sợ bỏ sót người Tài, Đức nào. Xa lắc xa lơ có hai Bà Trưng,  Bà Triệu; gần một ngìn năm trở lại đây có Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Ánh, Quang Trung;  có thể kể thêm những người Tài, Đức hạng dưới như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi.
Ở thì đương đại, người đang được ĐCSVN tung hô là người Tài, Đức nhất Việt Nam từ xưa đến nay, đã tốn kém cả hàng chục tấn vàng tiền dựng tượng đài la liệt khắp non song- Người đó có tên: Hồ Chí Minh.
Nhưng có thực ông Hồ Chí Minh là người Tài, Đức nhất Việt Nam từ xưa đến nay?
I.1. TÀI
Nếu đem chân lý Tài là người nghĩ và làm những điều vĩ đại mà người thường không nghĩ và làm được thì thấy:
– Ông Hồ cướp được chính phủ Trần Trọng Kim không tốn một giọt máu nào thì quả  ông là người Tài.
– Ông Hồ đánh Pháp và thắng Pháp, ông cũng là người Tài.
– Ông Hồ đánh Mỹ, đã đánh cho Mỹ cút về nước, ông cũng là người Tài.
– Ông Hồ đem học thuyết Mác- Lenin về Việt Nam rồi gom một nửa dân nước Việt Nam đa phần còn mù chữ vào những cái chuồng HTX, xếp hàng chỉnh tề, vừa cầm liềm búa đi lên Chủ nghĩa xã hội, vừa cầm súng, cầm gậy đánh giặc với đường lối, chủ trương “biến không thành có”, với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, trong khi thày ( Mac –Lenin) của ông dạy ông, phải là một nước có nền công nghiệp phát triển mới có thể xây dựng được Xã hội cộng sản. Thế mà, từ già đến trẻ, từ kẻ vô học đến trí thức, từ người chỉ biết uống nước ao, gặm cỏ ở ruộng làng cho đến kẻ  đi Tây, đi Tàu, ăn bơ dư, sữa hậu cũng nhất tin theo, đi theo, làm theo.  Ông cũng là người Tài.
– Thêm Tài nữa, ông có vợ có con hẳn hoi, nhưng ông tuyên bố “tôi không vợ, không con” mà cả dân tộc Việt Nam từ gìa đến trẻ, từ trí thức đến vô học, đều tin và thừa nhận điều này. Ông cũng là người tài.
– Ông là con của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hòang Thị Loan, là con cháu chút chít trụt trịt của Lạc Long Quân và Âu Cơ, của Vua Hùng, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… mà ông tự xưng mình là “Cha gìa dân tộc”. Thế mà cả trăm họ con dân Đại Việt đều phấn khởi tin và cúi đầu, chắp tay thành kính thừa nhận. Ông cũng là người Tài.
Thật, từ cổ chí nay, từ già đến trẻ, từ kẻ vô học cho đến trí thức Việt, chưa từng có một đại thánh nhân, một lãnh tụ vĩ đại nào của con dân trăm họ Đại Việt làm được những điều này. Ông thực sự là một người Tài.
I.2. Đức.
Đức vĩ đại, lớn lao và cao cả của một người Bình thường hay Vĩ đại là luôn biết hy sinh quyền và lợi của riêng mình cho đất nước, cho dân tộc. Vì đất nước, vì dân tộc họ sẵn sàng hiến dân cả mạng mình cho sự nghiệp đó.
– Thời nhà Trần,Trần Bình Trọng chấp nhận cái chết, không chấp nhận ngôi Vương để làm tay sai cho người Hán cướp nước Đại Việt, nên ông đã mắng thẳng vào mặt người Hán, kẻ dụ dỗ ông, rằng: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”. Trần Bình Trọng là người có Đức vĩ đại. Hoặc như Trần Hưng Đạo, nhất nhất bảo vệ nền độc lập của Đại Việt trước hùng thế ào ạt xâm lược Đại Việt của Nguyên Mông, rằng: “Bệ hạ muôn đầu hàng xin hãy chém đầu thần trước đã”.
– Ông Hồ Chi Minh, tuổi còn non trẻ, nhưng đã nhận ra nỗi nhục của một đất nước không có độc lập nên rời đất nước ra đi, tìm đường cứu nước, khởi thủy, ông cũng là người mang trong lòng nỗi niềm đạo đức.
III- Có thực ông Hồ Chí Minh là người Tài, Đức?
III. 1- Nhưng trên đường đi tìm đường cứu nước, mới chân ướt chân ráo vào đến Sài Gòn, ông đã bập yêu ngay bé Huệ, rồi thề ước với nhau: “Hẹn gặp lại Sài Gòn”, để út Huệ mỏi mòn chờ đợi cho đến già hết kiếp vẫn không gặp được người hẹn hò tình yêu với mình. (Theo truyện Búp Sen Xanh của NV Sơn Tùng và  phim Tài liệu Việt Nam: “Hẹn gặp lại Sài Gòn). Ông Hồ biết ngày mình ra đi, chưa biết bao giờ biết ngày trở lại, mà thề bồi hẹn ước với người ta, để người ta chờ đợi đến tàn cả một đời mà ông không có động thái gì quan tâm đến người ta sau đó, trong khi ông đã là Chủ tịch nước Việt Nam đầy quyền uy, mưu mẹo. Ứng xử giữa người với người như thế, ông không thể được xem là người có đạo đức.
III.2 – Ông có vợ, con mà nói “tôi không vợ, không con”, là hành vi gian dối, không có đạo đức.
III.3 – Ông thuộc thế thứ mấy ngàn của lớp lớp con cháu Lạc Hồng, là con đẻ cụ thể của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà HoàngThị Loan mà ông dám xưng xưng mình là “Cha già dân tộc”. Ông là kẻ mất dạy, không có đạo đức.
III. 4- Ông đã ít nhất có hai vợ, hai con, một với bà Tăng Tuyết Minh, người Trung Quốc, cưới năm 1926 tại nhà hàng Thanh Bình bên Trung Quốc và sinh được một cháu gái nhưng chết yểu ( Tài liệu công bố của ĐCSTQ); hai với bà Nông Thị Xuân người Việt Nam, sinh con với bà Xuân năm 1956 ( tài liệu công khai trên mạng Internet). Ấy mà, ở cương vị Chủ tịch nước, quyền uy nhất nước, mưu mẹo thiên tài; một, ông lại không đoái hoài gì đến bà Tăng Tuyết Minh, để bà sống trong nỗi chờ đợi mỏi mòn cô đơn cho mãi đến năm 1991 mới chết; hai, ông sinh con với bà Xuân, nhưng ông không dám cưới bà ấy, để mặc cho tay chân của ông là ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an, thủ tiêu mà không có bất kỳ sự ngăn chặn hay thương xót gì ( tài liệu công khai trên mạng Internet). Ông là người ích kỷ, tàn ác, không có đạo đức.
III.5 – Chị ruột ông, bà Nguyễn Thị Thanh, một chiến sĩ cách mạng, lần mò từ Nghệ An ra Hà Nội, ông chỉ gặp có 15 phút rồi biến, để chị ông phải ngậm ngùi, uất tức trở về quê, mang tâm nguyện trong lòng “Thề không bao giờ gặp thằng Sinh Cung nữa”. Ruột già, máu trên máu dưới mà đổi xử với nhau như vậy, ông chỉ là một kẻ vô tình, bạc nghĩa, không có đạo đức làm người tối thiểu.
III. 6 – Cướp được chính quyền của Trần Trọng Kim, không chấp nhận nước Việt Nam non trẻ nằm trong một thể chế cộng hòa thuộc Khối Liên hiệp Pháp, quyết đưa cả dân tộc, hơn 20 triệu người, đang đói nghèo xác sơ, suy dinh dưỡng vào cuộc chiến tranh 9 năm đánh Pháp, làm mấy vạn thanh niên trai tráng, sinh lực cốt yếu của dân tộc, bị bỏ mạng, bị thương lê lết trong trận Điên Biên phủ. Ông là người tàn ác, không có đạo đức cứu sinh cho dân tộc.
Sự thật, cái Tài này của ông, chỉ qua sau 6 năm đã bộc lộ ra cái Tài Ngu. Sự thật, năm 1960 Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ra nghị quyết và  “TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘCĐỊA, 1960” ( Xem toàn văn tuyên bố đính kèm phía dưới), cáo chung cho chế độ thực dân. Nhờ đó, hàng loạt các nước ở châu Phi, châu Á, Châu Mỹ đã nhận về sự độc lập dân tộc mà không bị hao tổn của cải và xương máu với các nước đế quốc như:  Anh , Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…  Như thế, Việt Nam, nếu có hay không có trận chiến Điện Biên Phủ với Pháp, hao tổn người và của cải, thì Việt Nam cũng sẽ được trao trả độc lập vào năm 1960. Rõ ràng, máu xương và của cải đổ xuống ở trận Biên Phủ Phủ là lợi ít, hại nhiều. Với những người chủ trương cuộc chiến này, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh, phải nhận về sự Ngu nhiều, Tài ít là không thể phủ nhận. Tài ở đây là đánh thắng được Pháp. Ngu ở đây là không biết thời, biết thế, đợi thời, đợi thế như nhiều nước, để mục tiêu vẫn đạt được mà xương máu, sinh lực của dân tộc không phải đổ ra một cách phí phạm nhiều hơn là có ích như vậy. Lịch sử thế giới đã diễn ra, đủ rõ ràng để chứng thực điều này.
Như vậy, với chiến thằng Điện Biên Phủ “Vang dội năm châu, chấn động địa cầu” chỉ là chiến thắng của kẻ vừa ngu, vừa ác.
III. 7 – Cái ngu và cái ác còn được ông Hồ Chí Minh và đám tay chân thuộc hạ của ông ta tiếp tục thực hiện trong cuộc trường kỳ 20 năm phiêu diêu đánh Mỹ. Tuy có kết cục là Mỹ cút, nhưng dân tộc Việt Nam đã bị thiêu vào đây 5 triệu mạng người và cả dân tộc với mấy chục triệu người bị thương lê lết; non sông gấm vóc từ Mục Nam Quan đến Mùi Cà Mâu bị bom đạn cày xới, bị thuốc độc hóa học hủy diệt tanh bành, bung nát.
Ngu là, chỉ thấy người Mỹ có mặt trên đất nước mình thì lao đầu vào đánh, chẳng biết Mỹ, người Mỹ, xã hội Mỹ là thế nào, tại sao họ lại có mặt ở nước mình? Không biết Mỹ là thế nào, cắm mặt cắm mũi vào đánh nhau với Mỹ, quyết giành thắng lợi kỳ được bằng mọi giá, dù phải đánh tới người Việt Nam cuối cùng, cũng chỉ là suy nghĩ của số đông người bình thường, không phải của người Tài. Người Tài phải là người luôn biết kẻ thù là ai, như thế nào và đặc biệt phải biết thời, biết thế, biết “bánh xe lịch sử” tất yếu quay như thế nào, và quan trọng bậc nhất là nó quay theo hướng nào. Cụ thể, người Tài phải biết, nước Mỹ là nước dân chủ nhất thế giới, giàu có nhất thế giới, khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới, quân sự mạnh nhất thế giới. Mục đích người Mỹ có mặt ở Việt Nam, không phải xâm lược Việt Nam, thống trị dân Việt Nam, kiếm lợi từ Việt Nam mà chỉ là để ngăn chặn sự bành trướng của cái quái thai nhân loại là Chủ nghĩa Cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc đang hùng hổ bành trướng xuống vùng Đông Nam Á, và khai sáng văn minh, dân chủ cho người Việt Nam mà thôi. Ta đánh Mỹ không chỉ là đem sức cào cào, châu chấu của ta ra đọa với voi, nguyên tử mà còn trực tiếp đánh vào dân chủ, văn minh của nhân loại và của chính dân tộc Việt Nam đang khao khát mãnh liệt. Bởi vậy, khi đuổi được Mỹ ra khỏi Việt Nam, cả dân tộc trong cơn hấp hối lại tìm mọi cách để cầu thân với Mỹ để mong Mỹ ra tay cứu vớt. Điều này cũng đã rõ như ban ngày.
Vì vậy,việc quyết định đánh Mỹ đến tận tâm, tận lực của cả dân tộc để giành thắng lợi cho kỳ được, không phải là suy nghĩ và quyết định của người Tài, nó chỉ là suy nghĩ và quyết định của người bình thường. Nó chỉ là quyết định của kẻ cuồng tín, ngu muội và thích làm điều ác.
Lịch sử 70 năm của ĐCSVN cầm quyền, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh và kế tiếp là  những người do ông lựa chọn và đào tạo là lịch sử lầm đường, lạc lối, là lịch sử của cái Ác kế tiếp nhau, không ngừng nở rộ. Nhìn chung, không thể tìm đâu ra cái Đức vì đất nước, vì dân tộc của những người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam mà đứng đầu là ông Hồ Chí Minh.
Những sự thật trên, đủ để kết luận, ông Hồ Chí Minh không phải là người có Tài và càng không phải là người có Đức. Ông chỉ là người bình thường. Đơn giản vì ông cầm đầu cả Đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam quyết chọn đường đi cho dân tộc Việt Nam với những mất mát, đau thương về của cải và mạng người Việt Nam tới ngút trời, ngập đất mà không mang lại một giá trị tiến bộ xã hội nào cho nước Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Hơn nữa, con đường ông quyết chọn, đã và đang đưa đường dân tộc phải đối mặt với nguy cơ mất nước bởi bọn Tàu Cộng.
Một người không biết thời thế, không biết tất yếu nhân loại phải tiến lên trên con đường nào, đã đưa cả dân tộc vào bão lửa chiến tranh, chui sâu vào hầm mộ, lạc loài với con đường đi tất yếu của thế giới văn minh, người đó sao có thể có Tài được? Không, nhất định không thể.
Ai đó, thậm chí cả một dân tộc, thừa nhận ông Hồ là người Tài, người Đức, người đó, dân tộc đó chỉ là đồng bọn và thuộc hạ cùng tàn bạo, ngu dốt như ông ta mà thôi.
Những kẻ thi nhau làm ăn trên thân xác của ông Hồ bằng cách dựng tượng đài la liệt khắp non sông để bòn rút kiếm ăn mồ hôi nước mắt của 90 triệu dân, kẻ đó còn khốn nạn, còn ác, còn ngu, còn táng tận lương tâm hơn ông Hồ Chí Minh gấp hàng vạn lần.
Tóm lại, nôm na sự thậy là thế này: Anh ( ông Hồ) bảo với nhân dân Việt Nam hãy theo tôi, đi trên con đường mới Xã hội chủ nghĩa này sẽ có dân chủ, tự do, ấm no, hạnh phúc. Nhân dân Việt Nam cũng tin và đi theo, tự nguyện để cho anh ( ông Hồ) ngốn tươi 5 triệu mạng người, cả dân tộc bị thương lê lết, non sông gấm vóc bị bom cày, đạn xới tan nát, tanh bành. Hơn nữa, sau 70 năm, đám đệ tử của ông lãnh đạo “toàn diện và triệt để” đất nước, tiếp tục đi theo con đường ông đã vạch, nhân dân vẫn chẳng thấy tự do, ấm no, hạnh phúc ở đâu mà chỉ thấy toàn điều ngược lại, đất nước, dân tộc lại còn phải đối mặt với họa mất nước, mất dân tộc bởi Tàu Cộng. Như thế là anh ( ông Hồ) đã dẫn dân tộc đi sai đường, tức nhầm đường, lạc lối. Một người được công nhận là Tài, phải là người “thấy trước được điều thiên hạ thấy” và khôn khéo dẫn dắt cả dân tộc đi theo với thương vong và khổ đâu ít nhất. Anh ( ông Hồ) đã không thấy và làm được điều này mà ông cũng chỉ nghĩ và làm được những việc bình thường như chán vạn người Việt Nam bình thường khác.Vậy thì, còn căn cứ nào để Đảng của anh (ông Hồ), dân tộc Việt Nam của anh( ông Hồ) tôn vinh anh (ông Hồ) là người Tài? Không thể có căn cứ nào nữa.
Ôi khổ hạnh thay cho dân tộc Việt Nam tôi.
BĐX.

Toàn văn:
TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960.
(Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc).
Đại Hội đồng,
Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;
Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;
Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;
Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới;
Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;
Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;
Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;
Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;
Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;
Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;
Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;
Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;
Và vì mục đích này
Tuyên bố rằng:
  1. Sự nô dịch các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp tác trên thế giới.
  2. Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.
  3. Việc thiếu sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.
  4. Tất cả mọi hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.
  5. Các bước tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.
  6. Bất kỳ cố gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Tất cả các quốc gia phải tuân thủ một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới và Tuyên bố này trên cơ sở bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và tôn trọng chủ quyền của tất cả các dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ.