Mar 19, 2015

Dư luận viên

Dư luận viên


Tác giả: Theo FB Cuong Pham

Xin copy bài này trên FB của Cuong Pham về một vấn đề đang ồn ào trên mạng XH mấy ngày nay. Bài viết điềm đạm, thẳng thắn, và nói được nhiều điều “mất nhiều hơn được” lâu nay của những người làm công việc này- DLV
————–
I.DLV
Trước đây, người ta chưa gọi là “Dư luận viên”. Thường vẫn gọi là cán bộ tuyên huấn. Cấp huyện là có ban tuyên huấn rồi. Mấy ông trong ban này lúc ấy oai lắm. Các ông thường đi nghe tuyên huấn tỉnh, sau về nói lại với cán bộ và các tầng lớp nhân dân ở huyện. Nội dung thường thấy trong các buổi nói chuyện này là tin thời sự, đặc biệt là tin chiến thắng khắp nơi từ bắc tới nam (không bao giờ có tin ta thất bại, dù chỉ là tạm thời), và nghị quyết các loại (lúc ấy có người đã đề xuất nước ta nên xuất khẩu nghị quyết để nâng cao đời sống nhân dân cơ mà).
Báo chí hiếm, đài lại càng hiếm hơn nên được nghe cán bộ tuyên huấn nói chuyện là niềm vinh hạnh lớn. Những lời của các ông ấy nói là “những lời như chân lý sinh ra” (thơ Tố Hữu). Công bằng mà nói, các cán bộ tuyên huấn đã góp phần không nhỏ vào việc động viên toàn dân tham gia đánh Mỹ giành thắng lợi cuối cùng. Muốn làm tuyên giáo thì phải nói giỏi, trơn tru, lưu loát, có thế mới hấp dẫn được người nghe.
Nhưng nghe mấy ông tuyên giáo huyện thì chán lắm. Nhiều ông nói ngọng. Lại cứ hay dở “chiêu” : “vấn đề này tôi chỉ nói nội bộ, các đồng chí đừng …” (ý là vấn đề này rất bí mật, các đồng chí là người rất đáng tin cậy tôi mới nói). Người nghe thấy sướng quá, hóa ra mình cũng là người quan trọng được biết những điều “bí mật” mặc dù những điều các ông ấy nói, BBC, Tiếng nói Hoa Kỳ… nó nói lâu rồi. Nhiều ông tuổi còn trẻ nhưng hay gọi lãnh tụ bằng “anh”, ý “mình với các “anh ấy” gần gũi lắm”. Mở miệng là “anh Duẩn, anh Đồng, anh Giáp… “. Cũng là học lẫn nhau cả thôi. Tỉnh đi nghe trung ương nói, thấy trung ương gọi bằng “anh”, khi về nói cho huyện cũng gọi như thế, rồi huyện thấy tỉnh gọi thế, cũng bắt chước.
Người bình thường thấy gọi bằng “anh” nghe “oai” lắm. Nhưng người có tí hiểu biết thì thấy vừa “xấc”, vừa “hợm”. Khi nào phải nghe các ông ấy nói chuyện thì tốt nhất là kiếm một góc mà ngồi, mang theo quyển sách.
Từ khi về Hà Nội, nơi tôi làm việc có quan hệ với trường Nguyễn Ái Quốc (bây giờ là Học viện Hồ Chí Minh gì đấy!), cơ quan tuyên huấn cỡ lớn. Chi bộ quan tâm đến tình hình tư tưởng của anh em nên thỉnh thoảng vẫn mời mấy vị ở đấy về nói chuyện. Trình độ cấp trung ương, nên câu chuyện cũng có hấp dẫn hơn. Nhưng vẫn không chừa được cái bệnh: “vấn đề này tôi chỉ nói nội bộ…”.
Và nhất là vẫn cái bệnh của tuyên huấn, thường nói lấy được, bất chấp sự thực khách quan.Vì cứ nghĩ người nghe không biết gì. Hoặc người ta có biết nhưng không thể “cãi” được. Nói mà tin rằng không có ai phản bác thì muốn nói gì chẳng được?
Một lần, khoảng 1995 , 1996, một ông đến nói về công cuộc đổi mới. Ông ấy nói đại ý: Chúng ta phải biết ơn đảng nhiều lắm vì nhờ đảng mới có đổi mới, nhờ đảng, cuộc sống của chúng ta mới được cải thiện như ngày hôm nay. Rồi ông ấy lấy thí dụ chứng minh cho cái điều ấy: Cách đây 10 năm, chúng ta phải mang chai đến cơ quan chia nhau mỗi người một ít xà phòng nước để giặt quần áo, bây giờ thì đủ loại xà phòng; tết Trung thu (hôm ấy sắp đến rằm tháng Tám), mấy người mới được một cái bánh đem cắt ra chia nhau mang về cho các cháu. Bây giờ thì bánh nướng, bánh dẻo ê hề, chỉ sợ không có tiền mà mua…
Mình nghe, “lộn hết cả ruột”.
Đến giờ nghỉ giải lao, ông ấy vào phòng khách ngồi uống nước cùng mấy người nữa. Mình cũng giả vờ vào xin chén nước. Sau vài câu xã giao, mình hỏi:
– Anh chắc năm nay cũng khoảng năm mươi tuổi?
– Vâng, tôi năm nay năm mốt.
– Xin lỗi, thế anh quê tỉnh nào?
– Cám ơn anh hỏi thăm. Tôi quê Thái Bình, tỉnh năm tấn xưa đấy.
– Anh hơn tôi một tuổi, nhưng vì anh quê ở Thái Bình nên có thể anh không biết. Từ năm 1959 về trước, thỉnh thoảng cứ sau ngày lĩnh lương, bố tôi thường đến nhà bà bác có cửa hàng tạp hóa, mua một hòm xà phòng giặt, mỗi hòm khoảng vài ba chục bánh. Khi nào dùng hết, lại đến chở. Chẳng có ai phân phối hay phải chia bôi gì.
Còn cái bánh Trung thu ấy, cứ trước ngày Tết độ nửa tháng, bố mẹ tôi lại dẫn mấy anh em đi dọc các phố hàng Ngang, hàng Đường, Đồng Xuân xem người ta làm bánh trung thu. Vào dịp này, cửa hàng nào cũng làm bánh ngay bên ngoài, người mua có thể chứng kiến đủ mọi công đoạn ra đời của một cái bánh. Mấy ông thợ làm bánh khoác tạp dề, đội mũ vải trắng nhào, trộn, vỗ khuôn chan chát…. Người ta cứ làm, mình cứ xem, không ai chào mời. Đó cũng là cái tử tế của các nhà buôn thời ấy. Rất cần khách hàng, nhưng vẫn giữ tự trọng, không khúm núm, xun xoe mời chào.
Xem một lúc lại đi hàng khác. Khi nào chán rồi, mỏi chân rồi, thì mua một hộp, hai hộp. Mua bao nhiêu cũng được, mua nhiềuthì được rẻ hơn. Chỉ có từ sau 1960, chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội nên mới không có xà phòng mà giặt, phải dùng chất tẩy mà người ta gọi là xà phòng nước, bánh trung thu cho trẻ con mà phải cắt từng cái làm hai ba phần chia nhau.
Ông tuyên giáo tỏ vẻ ngạc nhiên:
– Thế ạ?
– Chắc vì anh ở Thái Bình nên không biết. Tôi xin “tiết lộ” với anh cái sự thật ấy. Ta bây giờ nếu có vui thì là vui vì cuộc sống của chúng ta đã được trở về với những quy luật vốn có. Có “mới” gì mà “đổi”, phải không anh? Còn biết ơn thì lại càng không. Chẳng lẽ cái anh nó bóp cổ mình cho đến khi sắp tắc thở mới buông ra, mình lại phải biết ơn?
Sau lần ấy, cứ mỗi khi đến buổi nghe báo cáo thời sự, tôi lại được thủ trưởng giao cho một công việc gì đấy để không phải tới nghe. May quá!
II.
Mấy năm nay, in-tec-net có ở khắp nơi, các trang web ngoài luồng phát triển tới mức không kiểm soát nổi, lại thêm cái anh Phây-xờ-búc ngày càng bung ra, khiến các vị tuyên huấn xoay như chong chóng không chống đỡ kịp những lập luận thuyết phục, những sự thật vốn được giấu kín nay được phơi bày. Thế là mấy chục nghìn các DLV ra đời. Có mặt các DLV này, dư luận trên mạng thêm rộng đường, người nói phải, người nói trái, anh nói ngược, chị nói xuôi, phân tích, chứng minh, lý giải… khiến người nghe càng có điều kiện phán xét để rồi tin vào một ý kiến nào đó, thoát khỏi tình trạng “như vịt nghe sấm” hay định hướng một chiều. Để cho các cuộc tranh luận, thảo luận lành mạnh, bổ ích, tôi xin đề nghị các bạn DLV:
Xin các bạn có tên thật. Nhân vật chèo xưa, mỗi khi bước ra sân khấu đều hỏi: “Tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ?” Hỏi thế thôi, chứ chỉ chờ nghe tiếng đế trong hậu trường “không xưng danh thì ai biết là ai!” là tên tuổi, thậm chí quê hương bản quán được công khai. Tôi để ý thấy tất cả các bạn chẳng ai có cái tên thật, cái ảnh đại diện cũng không. Chẳng lẽ các bạn tự nhận mình là người không chính diện (tức là “phản diện”)? Chỉ riêng điều này, các bạn đã tỏ ra không chính danh rồi. Mà “danh bất chính thì ngôn bất thuận”. Làm sao thảo luận được với người không chính danh, làm thế là tự hạ thấp bản thân mình.
Thậm chí, cái không chính danh của các bạn còn khiến người ta nghĩ đến hành động “ném đá giấu tay”. Hay là các bạn cũng chưa đủ tự tin vào những điều mình nói, thậm chí còn thấy hổ thẹn vì những điều ấy nên không dám “xưng danh”? Cho nên thái độ của tôi cũng như của nhiều người thường là coi như không thấy gì mỗi khi đọc ý kiến của những người không chính danh.
Lập luận của các bạn đều cũ rích. Với ý kiến nào cũng chỉ có bấy nhiêu lý lẽ. Trên FB tuần qua đã có một chàng trai thống kê những lập luận quen thuộc đến nhàm chán của các DLV, tôi không nhắc lại để khỏi làm mất thời gian của mọi người. Hình như các bạn phải đợi khi nào có đợt tập huấn mới có một chút mới mẻ do cấp trên “gà” cho. Nhưng cũng chỉ mới mẻ được vài hôm thôi.
Cuộc sống luôn luôn vận động sao chỉ với những lập luận xói mòn ấy có thể bác bỏ được biết bao những câu chuyện, lý lẽ, phản bác đầy sức thuyết phục?
Muốn cho cuộc tranh luận thêm hấp dẫn, nói đúng hơn là để ý kiến còn có người đọc, xin đề nghị các bạn chịu khó học hỏi thêm. Cái khi học ở trường, muốn lên lớp, có thể chỉ cần bỏ ra ít tiền cho vào cái phong bì là xong. Nhưng cuộc sống phức tạp hơn nhiều lần khi đi học. Không học, không làm ăn gì được đâu. Nhất là lại làm người chuyên tranh luận, làm việc bây giờ lại có lương, có thưởng. Mà lại tranh luận với một số lượng người khổng lồ, trong đó không ít người “thông kim bác cổ”, tuổi đời có khi đáng tuổi, cha tuổi ông các bạn. Quả là chẳng dễ dàng gì!
Để không khí bàn luận tránh bị ô nhiễm, giữ được sự trong sạch cần thiết, đề nghị các vị (giờ thì tôi không thể gọi “các bạn” được nữa) nói năng sao cho có văn hóa. Các vị nói tục nhiều quá, văng bậy nhiều quá. Xem những dòng chữ của các vị, tôi hình dung ra mấy anh thanh niên, tóc nhuộm xanh đỏ, cổ đeo cái dây xích to tướng, ngực áo phanh rộng, khuôn mặt bạc đi vì thiếu ngủ, rít thuốc liên tục,bên cạnh cái gạt tàn đầy những đầu mẩu thuốc lá, ngồi trước máy vi tính chăm chú với các màn súng nổ, gươm đâm…thỉnh thoảng lại hét lên, lại văng ra những lời tục tĩu để giải tỏa sự bức xúc vì thua cuộc.
Hình như các vị thấy thua kém về lý lẽ, bèn đem cơ quan sinh dục của cả hai giới thay cho cái trí não ít học, lười học. Vẫn biết chúng đều là những bộ phận trong cơ thể con người cả, bộ phận nào cũng quan trọng, không thể thiếu, nhưng cái nào có việc của cái ấy. Nhiều lần, tôi đã nhắc nhở các vị “nói năng sao cho lịch sự”, hay “cần chứng tỏ mình là người có giáo dục”.
Nhưng hình như các vị không phải là những người như thế nên văng tục chửi bậy là ngôn ngữ thường thấy trong các comment của các vị. Nghe như lời ăn tiếng nói của những kẻ chuyên hành nghề “đâm thuê chém mướn”. Hay các vị đang hành nghề này bằng bàn phím?
Chẳng hiểu các bậc sinh thành ra các vị, vợ con các vị mỗi khi đọc được những dòng ấy họ sẽ nghĩ gì về công lao dưỡng dục ngần ấy năm trời, nghĩ gì về cái người mà hàng ngày họ vẫn “đầu gối tay ấp”, nghĩ gì về người bố, người mẹ của mình? Cũng có thể đây chính là lý do để các vị không dám chính danh?
Vài lời đề nghị, chỉ muốn những cuộc trao đổi thú vị hơn.
ÔNG GIÁO LÀNG

Can ngăn, bắt giúp.

Can ngăn, bắt giúp.
Có lẽ bây giờ ít khi bạn gặp được cảnh đàn gà nhởn nhơ kiếm ăn trên phố cổ. Trước đây thời bao cấp khó khăn, nhiều nhà trong phố cổ tăng gia nuôi gà vịt, lợn trong nhà.  Thỉnh thoảng lỡ tay gà xổng bay lên mái nhà, nhảy ra ngoài đường, chủ gà đuổi bắt rất chật vật.

Nhiều người hùa theo bắt giúp gà xổng, tôi cũng nằm trong đám bắt giúp ấy.

Mỗi tội cứ khi nào gần tóm được nó, tôi lại lỡ tay hất cho nó bay xa thêm, tôi còn chủ ý lùa gà chạy vào hàng quán để bắt. Lúc đó thật vui, gà nhảy tứ tung trong quán phở làm đổ lọ tương ớt, chai dấm, đạp vào bát phở khách đang ăn. Hoặc tôi lùa nó chạy vào nhà ai, bắt thì chả bắt tôi cứ cố tình khua cho nó bay toán loạn trong nhà người ta, đổ cái này, vỡ cái kia. Cảnh hoảng loạn thật thú vị. Sau một hồi chán chê xua gà chạy loạn phố, loạn nhà tôi mới tóm được con gà, hể hả trao cho chủ gà nhận lời cảm ơn.

Có lúc gà bị sổng, chủ gà thấy nó ra ngoài đường hiền lành, nhẩn nha kiếm ăn. Họ cũng chả bắt, cứ để nó đấy thỉnh thoảng ngó xem nó có đi xa không, nếu nó sổng chỉ quanh quẩn ở gần nhà thì họ yên tâm, thậm chí họ cũng nghĩ thôi nếu nó kiếm ăn mà không bỏ đi thì cũng kệ nó cho nó quen dần, thế cũng tốt. Gặp lúc ấy tôi cứ la làng là gà sổng, tôi lao vào đuổi bắt cho nó chạy toán loạn khắp ngõ phố. Cố tạo ra sự hoảng hốt, đổ vỡ để giải trí. Rồi có khi gặp phải gà người ta thả rông tôi cũng quy là gà sổng, chủ gà đang thả gà ra đường cho nó kiếm ăn, tôi cũng quy loại gà đấy thành gà sổng để đuổi bắt.

Rồi người lớn nhận ra cái ý đểu sau việc bắt giúp gà của tôi, chủ gà chặn tôi lại không chi bắt giúp. Gà chạy vào nhà nào, chủ nhà chặn ngay cửa không cho tôi vào bắt giúp.

Hàng xóm cãi nhau, bạn học cãi nhau. Tôi đứng ra can, chỉ vài lời can đi can lại của tôi đám cãi nhau thành đánh nhau. Ví dụ thằng này gân cổ thanh minh nó ức vì thằng kia chửi nó là - thằng cụ nhà mày- Tôi khuyên nó  rằng  - cụ mày chết rồi, có nghe thấy đâu, cả thằng này nó cũng không biết cụ mày bao nhiêu tuổi nên nó gọi bằng thằng, không chấp làm gì. Thôi nhịn đi. Mà nó gọi cụ mày bằng thằng cũng là ý tốt, nó muốn nói cụ mày trẻ.

Mấy lần tôi can như thế, người lớn bắt gặp. Họ véo tai mắng lần sau mà có đám cãi nhau nào tôi mà ra can thì họ xách cổ về cho bố tôi trị tội. Cái tội can đểu khích cho người ta đánh nhau.

Tôi vẫn cứ bắt gà và can đanh nhau. Người ta xách cổ tôi lôi xềnh xệch về mách bố tôi. Tôi cãi cự với bố và người xách cổ tôi là tại vì con gà xổng, tại vì người ta cãi nhau. Tôi có làm gà sổng hay làm người ta cãi nhau đâu. Gà sổng thì tôi đi bắt giúp, cãi nhau thì tôi can. Chú xách cổ tôi là chú Nhâm, nhà chú ở số 5 Lương Ngọc Quyến làm nghề bán bánh phở, giờ chú vẫn ở đó làm nghề đó. Ai không tin cứ qua đó hỏi chú ấy hồi bé tôi oái ăm thế nào. Chú Nhâm kể diễn biến cho bố tôi nghe, chú bảo bắt gà hộ, can đánh nhau hộ là tốt. Nhưng cái thằng này, chú chỉ tôi, nó chỉ lợi dụng để xua gà chạy toán loạn đổ vỡ các thứ thêm, nó can chỉ khích người ta đánh nhau thêm.

Bố tôi cảm ơn chú vì đã mách, oánh cho tôi một trận lằn hết mông.

Tôi hiểu bài học đầu tiên về luật, cái quan trọng là hành vi. Không phải cứ mượn cớ ý tốt là làm gì cũng được. Động cơ tốt xấu chưa có thể xác định. Nhưng hành vi có gây hại hay không mới là yếu tố chính. Trước tiên người ta thấy hành vi có hại phải ngăn chặn đã sau đó mới đến việc tìm động cơ để xử lý sau. Như chú Nhâm xử lý tôi vậy,  mọi người dồn con gà vào góc tường ở sân để bắt thì tôi cố ý lùa nó vào trong nhà nơi có đồ đạc ngồn ngang hay hàng quán để gây toán loạn thêm. Việc chú xách cổ tôi về cho bố tôi trị là việc người lớn có trách nhiệm phải làm trong trường hợp như vậy.

Tôi chả oan gì, âm mưu nghich ngợm bị phát hiện thì đành chiu, chứ kêu oan hay trách người phát hiện làm cái gì cơ chứ.


Bây giờ thì nói chuyện ngày nay, vụ tưởng niệm Gạc Ma ở tượng đài Lý Thái Tổ giữa người tưởng niệm và đám DLV cờ đỏ cùng với phát ngôn của ông giám đốc CATP Hà Nội Nguyễn Đức Chung.

Bên DLV cờ đỏ sau lời phát biểu của ông Chung, đồng loạt kêu gào bị oan, biện minh nào là đám tưởng niệm kia toàn người xấu, nào là mình vì giữ gìn trật tự an ninh, tự phát tâm phát sức để ngăn cản. Nào là báo chí vu oan cho DLV, nào là có thế lực này kia cố tình thực hiện diễn biến hoà bình. Anh DLV Nguyễn Quang Minh còn lấy ý của ông Đinh Thế Huynh ra để biện giải sự việc thành ghê gớm hơn. Tất cả DLV đều xoáy sâu vào thân nhân và mục đích, động cơ người tưởng niệm để chứng minh rằng họ làm việc ngăn cản ấy là đúng đắn, vì đại nghĩa. Thậm chí DLV còn ngầm lên án ông Chung, lên án báo chí phê phán hành vi của họ có nghĩa là bao che cho bọn ''rận chủ '' ( từ DLV '' dùng, như thế là tiếp tay, cổ vũ cho diễn biến hoà bình.

Chuyện ngày nay làm tôi bật cười khi nhớ đến mình ngày xưa khi đuổi gà giúp dân.

Vấn đề ở đây rất đơn giản, các DLV cố tình biến nó thành mục đích chính trị, an ninh. Chuyện đó sẽ xác minh và xem xét như lời ông Chung nói, còn việc phải chấm dứt hành vi ngăn cản, xô đẩy, chửi bới là điều cần phải chấn chỉnh ngay là chính xác.

Giờ cứ gọi cho việc người tưởng niệm = con gà.
Hành vi tưởng niệm là phản động = con gà bị sổng
Đám DLV động cơ vì dân, vì nước = Người bắt gà
Hành động ngăn cản tưởng niêm = bắt giúp con gà
Ông Chung là người có trách nhiệm thi hành luật pháp = ông Nhâm bán bánh phở.

Chúng ta sẽ thấy ngay vấn đề rất đơn giản, và ông Chung đã xử lý chính xác, hợp tình, hợp lý. Con gà bị sổng, trước mắt nó chưa làm đổ vỡ gì, phải tính bắt nó làm sao để không đổ vỡ các thứ, tuỳ thuộc con gà thái độ nó có manh động chạy nhao nhác hay không, hoặc nó sổng ra nó tha thẩn kiếm ăn thì để trời tối mắt nó quáng, lúc đó bắt nó về chuồng dễ dàng.

Đám người tưởng niệm cũng vậy, họ cũng như con gà, hành động của họ mang hoa, hương đến thắp các liệt sĩ. Dù họ có là phản động đi chăng nữa, mục đích gì đi chăng nữa thì hành vi thắp hương các liệt sĩ Việt Nam hy sinh là một hành vi ôn hoà, một hành vi tự nhiên cuả tình cảm con người. Không vi phạm pháp luật.

Đó là chưa kể chắc gì đã phải là gà sổng, mà nó thuộc trường hợp chủ gà rèn luyện cho gà thả tự do kiếm ăn. Cũng như các cơ quan chức năng thấy hành vi tưởng niệm là tốt, không vi phạm. Họ để cho các đối tượng mà DLV gọi là '' phản động '' ấy tự nhiên thực hiện hành vi tưởng niêm, nhằm cảm hoá nhóm '' phản động '' ấy vào việc tốt đẹp, như những chủ gà thấy gà sổng mà nó thẩn thơ kiếm mồi ăn không có gì đáng lo, họ tiện rèn luôn thói quen tốt ấy cho gà.

Cho nên không thể cứ thấy gà ngoài phố là kêu gà sổng để bắt. Cũng không thể đã là gà sổng thì cứ phải bắt , đổ vỡ gì không cần biết.

Hành vi của đám DLV là nhìn thấy gà là kêu gà sổng, bất chấp là sổng thật hay người ta thả rông cho nó ăn, rèn nó vào nền nếp có lợi và có nếp. Tự cho mình quyền được bắt giúp và lợi dụng cái từ bắt giúp ấy để gây hỗn loạn thêm.

Khác gì trò trẻ con của tôi khi xưa, đến ông Nhâm bán bánh phở còn đọc vị được. Huống chi là ông giám đốc công an TP Hà Nội lẽ nào không đọc ra vị mấy thằng DLV nghênh ngang kêu rằng vì đảng, vì dân chống phản động.

Xét về mặt luật pháp, mọi căn cứ diễn ra trên hành vi thực tế. Hành vi của bọn '' phản động '' là thắp hương , dâng hoa trước tượng đài Lý Thái Tổ. Hành vi của DLV là ngăn cản, phá hoại việc làm đó.  Ông Nguyễn Đức Chung là người thực thi pháp luật, ông trước tiên có hành động dẹp hành vi ngăn cản trái phép của đám DLV. Một việc làm đúng trách nhiệm của người thực thi pháp luật khi thấy sự việc, hành vi của các bên diễn ra trước mắt mình. Đấy là việc của người công tâm pháp luật trong một việc cụ thể như thế. Khi nào người tưởng niệm biến cuộc tưởng niệm thành biêủ tình chống phá chế độ, ông Chung có đủ quân để dẹp ngay tức khắc, đâu cần bọn DLV ra tay giúp.

 Biết đâu trong vụ tưởng niệm ấy ông Chung đã giăng quân chờ đợi đám tưởng niệm này có hành vi phạm pháp để ra tay xử lý, làm rõ bộ mặt của bọn phản động trá hình, núp bóng tưởng niệm. Nếu vậy thì đúng là bọn DLV đã phá kế hoạch của ông Chung. Cuộc tưởng niệm diễn ra êm đềm, ông Chung được tiếng là tôn trọng quyền yêu nước của bất kỳ thành phần xã hội nào, không ngăn cản, cấm đoán. Cuộc tưởng niệm biến thành vi phạm pháp luật, ông Chung đủ chứng cứ hốt cả mớ, ông có công triệt phá ổ nhóm phản động.

Nếu hôm nay ông đồng tình với DLV phá hành vi tưởng niệm ôn hoà. Vậy ngày mai những người tưởng niệm tổ chức hôn nhân, may chay, giỗ tết, ông cũng đồng tình cho DLV phá hoại những sinh hoạt bình thường của những người này vì lý do họ là '' phản động '' chăng.? Nếu đồng tình như thế thì cũng chả bao giờ ông Chung có đủ chứng cứ bắt bọn '' phản động ''. Bởi bọn này mới tụ tập, chưa kịp làm gì phạm pháp đã bị DLV kéo đến ầm ầm làm tung hê hết mọi thứ. Và nếu như thế thì mọi sự cứ kéo dài, ngày này, ngày nọ tiếp nhau thành nhiễu loạn xã hội.

Việc của ông Nguyễn Đức Chung làm, xét theo mặt pháp luật và mặt an ninh bảo vệ chế độ là có lợi cho Đảng CS và Nhà Nước CHXHCN. Nhưng bọn DLV không hiểu điều đó, chúng cho rằng ông Chung đang diễn biến. Chúng lên tiếng, gửi đơn thư để ép ông phải nhận sai lầm phát ngôn của mình. Thậm chí chúng dùng các thế lực khác như  đối tượng tuyên huấn của quân đội, đoàn thanh niên, ban tuyên giáo trung ương như Đinh Thế Huynh  làm bình phong để âm mưu hợp thức hoá hành vi của chúng. Đối chọi lại những phát ngôn của ông về chúng.

Hiện nay chúng đã tuyên bố  như một đội quân được thành lập riêng, có sắc áo riêng, có kênh phát thanh riêng, có quan hệ độc lập với các phần tử nước ngoài. Chưa kể chúng tự nhận mình là những người dân bình thường, lao động những lại có nguồn tiền đi lại, in áo, làm các ấn phẩm, clip...để tuyên truyền cho chúng. Trên cái đà phát triển ngông cuồng và ngạo mạn, bất chấp pháp luật của bọn DLV này đang ngày một nâng cấp độ, nếu ông Nguyễn Đức Chung là người '' diễn biến '', ông nên đứng ra nhận chúng là người của chính quyền Hà Nội, để chúng có cơ hội phát triển hơn nữa thành đám Hồng Vệ Binh một thời đã gây xáo trộn, khủng hoảng chính trường Trung Quốc. Như thế mới có đột biến để thay đổi thế chế cộng sản độc tài hiện nay.

Là người chán ghét thể chế cộng sản, tôi mong ông Nguyễn Đức Chung sẽ phát biểu lại với báo chí là mình có sơ suất khi phát biểu về đám DLV, ông sẽ đính chính đám DLV này là một tổ chức của Đoàn thành niên, đảng uỷ TP Hà Nội....

Chỉ như thế mới khiến đám ngông cuồng này trở nên ngông cuồng hơn. Cơ hội để thay đổi thể chế này trông mong vào những thành phần như bọn DLV này rất nhiều, chúng càng lớn mạnh thì cơ hội ấy cũng càng lớn theo bấy nhiêu.

Nguoibuongio.

Mar 2, 2015

Cầu đã bắc qua sông

Cầu đã bắc qua sông

Tuỳ bút của NGUYỄN QUANG LẬP
Tối qua nhậu về trúng gió hơi bị cảm, check mai nhận được cái thư của một học trò: “Thầy ơi em nhớ thầy đưa chúng em đi  dọc sông Gianh hè năm 2009 quá”, tự nhiên ngồi thừ ra nhớ sông Gianh.
Năm đó mình đưa Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Vân và mấy đứa học trò lớp biên kịch đi đò dọc sông Gianh một ngày trời, chuyến đi gặp nắng gắt khá mệt nhưng mà thích. Mình đã ba lần đi dọc dòng sông. Lần thứ nhất năm 1985 đi dọc sông Thu Bồn cùng với Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Cao Việt Bách, Thuận Yến… Lần thứ hai đi dọc sông Hương năm 1987 cùng với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vĩ, Hồng Đăng… Và đây là lần thứ ba.
Nguyễn Quang Lập:
Bến đò trên sông Gianh
Đi dọc dòng sông rất là thích, đặc biệt là đi dọc dòng sông quê, nó cho người ta cảm giác mình đang đi đến tận cùng kỉ niệm. Suốt cả chuyến đi, Phạm Xuân Nguyên cứ ngâm đi ngâm lại mấy câu thơ của  Bế Kiến Quốc  “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng/ tất cả trả lời sinh bên một dòng sông/…Chẳng phải rộng xa một tầm cò vỗ cánh/Cũng xinh xinh vài sải chèo quẫy mạnh/Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng/ Mỗi con người gắn bó một dòng sông”.
Nguyễn Quang Lập:
Thì mình cũng vậy, cũng sinh ra bên một dòng sông, sông Gianh của mình cũng “rộng xa một tầm cò vẫy cánh” y chang câu thơ của Bế Kiến Quốc.  Từ thủa bé thơ cho đến lúc khôn lớn, không chiều nào mình không đến với sông Gianh. Còn bé thì bơi lội, ngụp lặn thi nhau bắt cua cá. Lớn lên một chút mình thường đứng trên bờ đê Thị trấn Ba Đồn nhìn sang bờ bên kia, cố tìm xem đâu là nhà của Lưu Trọng Lư, đâu là nhà của Nguyên Nhung, đâu là nhà của Nguyễn Hàm Ninh, cả nhà bác Đồng Sĩ Nguyên nữa, họ là niềm tự hào của dân quê mình.
Nhiều lần mình sang làng Hòa Ninh xã Quảng Hòa cố tìm xem ngôi nhà mẹ anh Sơn (Trịnh Công Sơn) ở đâu nhưng tìm không ra. Nghe nói trước đây bà ở làng Vụng Nổ sát sau Thị trấn Ba Đồn, sau chạy giặc lên làng Hòa Ninh, cuối cùng mới vô Huế, lấy chồng sinh anh Sơn ở đấy.
Trịnh Công Sơn thật sướng, anh có hai dòng sông quê cùng có tên là Linh Giang. Dòng Linh Giang quê nội là sông Hương và dòng Linh Giang quê ngoại là sông Gianh. Ấy là mình nghe ba mình kể vậy chứ thực hư thế nào mình cũng không biết. Nhiều lần chơi bời nhậu nhẹt với anh Sơn mà mình quên khuấy hỏi chuyện này, thật quá tệ. Có lẽ mình tin ba mình, cứ đinh ninh như thế nên không hỏi nữa. Cũng bởi vì mình nghe trong những ca khúc của anh vừa có chút gì ngọt đắng, hờn tủi của sông Hương; vừa có chút gì thoáng đãng, dữ dội của sông Gianh.
Nguyễn Quang Lập:
Làng quê Việt Nam (Ảnh minh họa)
Ba mình nói xưa kia sông Gianh được gọi là Đại Linh Giang. Theo Đào Duy Anh, cái tên này có từ thế kỉ 3, thời Tây Tấn bên Tàu, cách đây chừng 1.700 năm. Sau này dân gọi tắt là Linh Giang trùng tên với Linh Giang ở Huế, sông Hương ngày nay, là vì vậy. Mình có quá nhiều kỉ niệm  về dòng sông, những kỉ niệm từ thuở bé thơ cho đến quá nửa đời người kí ức ấy không hề phai nhạt. Thế mà mình không hề viết được gì về sông Gianh, trong khi anh Văn Linh quê Hà Tĩnh lại có bộ ba tiểu thuyết Sông Gianh, hơn nghìn trang sách. Nghĩ mà xấu hổ với anh Văn Linh.
 Anh Văn Linh khi đã sức tàn lực kiệt nhưng mỗi lần nhắc đến sông Gianh, anh đều nói rất nhiều, rất hào hứng. Một hôm mình hỏi anh, nói ấn tượng nhất của anh về sông Gianh là gì. Anh nói ngay, ấn tượng nhất có lẽ là những cây cầu bắc qua sông, tuồng như chúng nằm ngoài những giấc mơ đẹp nhất của mình. Từ thủa thanh niên trai tráng cho đến tuổi về già, chưa khi nào mình dám nghĩ sẽ có một ngày cầu được bắc qua sông Gianh.
 Đúng vậy. Từ bao đời nay người sông Gianh chỉ khát một cây cầu, khát khao cháy bỏng nhưng ít ai dám mơ tới. Sông Gianh sâu và rộng, mùa nước lũ vô cùng dữ dằn, làm sao có thể mơ đến một cây cầu? 1700 năm nay, kể từ khi người sông Gianh có mặt, qua sông vẫn chỉ những con đò, đến mùa nước lũ thì những con đò cũng vắng. Ngay bến phà Gianh nối đường Quốc lộ 1, những con phà cũng phải cắm sào neo bến không dám qua. Xe và người nối dài hàng cây số hai bờ sông chờ nước rặc luôn xảy ra ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác, đời này sang đời khác. Rất nhiều  khi mình đã đến bên này sông, chỉ cần 10 phút xe hơi là về quê mà phải ăn chực nằm chờ trắng ngày thâu đêm.
Nguyễn Quang Lập:
Bờ biển Quảng Bình
 Đôi khi mình ngồi buồn thiu bên trên bờ đê nhìn dòng sông cuồn cuộn chảy, nghĩ bụng dòng sông như tính khí người sông Gianh, khi hiền như đất khi giận dữ như nước lũ; nghĩ bụng có lẽ hơn trăm năm (1627-1775) chúa Trịnh không thu phục được chúa Nguyễn cũng vì sông  Gianh rộng quá, sâu quá, dữ dội quá chăng; nghĩ bụng không biết bằng cách nào Quang Trung đưa được đàn voi trận qua sông  kịp ra thành Thăng Long đại phá quân Thanh năm Kỉ Dậu (1779). Tất cả đều có thể, nhưng chiếc cầu bắc qua sông thì không thể, không chỉ có mình nghĩ thế, mấy vạn dân hai bờ sông  có lẽ cũng nghĩ như mình.
Chẳng ngờ một ngày đẹp trời cuối thế kỉ 20, cầu đã bắc qua sông, chấm dứt cơn khát 1700 năm của những người dân quê mình, quả thực còn hơn một giấc mơ. Bây giờ không chỉ một cây cầu mà có đến 9 cây cầu, ngoài cầu chính nốí đường quốc lộ 1, gọi là cầu Gianh, còn có bảy cây cầu nữa, đó là cầu Đá Nện, cầu Cà Tang, cầu Chợ Gát, cầu Yên Tố, cầu Sảo Phong, cầu Châu Hoá, cầu Văn Hoá và cầu Quảng Hải rải dọc dòng sông. Những chiếc cầu đã chấm dứt những chuyến đò ngang bấp bênh, hiểm nghèo. Có lẽ vụ đắm đò Quảng Hải 43 người chết tết năm kia là kỉ niệm buồn đau cuối cùng của sông Gianh vì thiếu những cây cầu.
Nguyễn Quang Lập:
Cây cầu bắc qua sông Gianh
Tết năm ngoái mình về quê, khi đến cầu Gianh mình đã xuống xe đi bộ qua cầu. Mình biết cây cầu dài 764,4 m nhưng cứ thích bước và đếm, như ngày xưa Nguyễn Tuân đã từng bước và đếm khi qua cầu  Hiền Lương. Mình kéo rê những bước chân già nua ốm yếu của mình bước và đếm, loạng choạng và nghiêng ngả bước và đếm, xiêu vẹo và đau nhói bước và đếm… cả thảy 1711 bước!
Bước cuối cùng mình ôm lấy cây cột đầu cầu thở dốc, rưng rưng trong niềm hân hoan khôn tả: 1700 bước! 1700 năm qua người sông Gianh dù đã trải biết bao khổ đau và cay cực thì giờ đây đã có những cây cầu. Nghĩ thế mà khóc. Mấy đứa trẻ tròn xoe nhìn mình, chúng không hiểu vì sao mình khóc. Làm sao chúng hiểu được, bởi vì khi đó mình đang gọi thầm ba mạ mình nơi chín suối, nói ba ơi mạ ơi, cầu đã bắc qua song!

Con đường của Rồng

Con đường của Rồng
Gần đây có ba event liên tiếp ở Sài Gòn. Có một điểm thú vị là các event này (do IPL, Trung nguyên và Trung ương Đoàn tổ chức) đều có các chủ đề khá lớn lao: Đánh thức con rồng ngủ quên, Châu chấu đá voi, Nhân hiệu Việt… Diễn giả ở các event này là những người Việt khá nổi tiếng, từ nước ngoài về như Vũ Minh Khương, Giáp Văn Dương, giới nghệ sỹ như Dương Thụ, Quốc Trung, giới kinh doanh như Võ Quốc Thắng, Đặng Lê Nguyên Vũ, giới kinh tế như Trần Đình Thiên, Võ Đại Lược, các học giả như Bùi Văn, Hồ Ngọc Đại, Tôn Thất Khiêm …
Thực sự, có vẻ như nhiều người, ở nhiều thế hệ khác nhau, ở các nhóm xã hội khác nhau, đang xoay xở tìm tòi sự đột phá, hay một lối thoát ra để vươn lên, không chỉ cho cá nhân mình, mà còn cho cả một thế hệ, cả đất nước.
Trong các sự kiện này họ tổ chức rất nhiều các cuộc trao đổi, đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm, nhưng suốt mấy buổi kiên nhẫn ngồi theo dõi, vẫn chưa thấy ai đặt ra được các câu hỏi cốt lõi.
Khó mà biết câu hỏi nào là câu hỏi cốt lõi, tuy nhiên nếu nhìn sâu vào thực trạng xã hội hiện nay, nhìn vào thực trạng của các xã hội tương tự trong quá khứ, cũng sẽ nảy ra những câu hỏi mà câu trả lời cần rất nhiều suy nghĩ. Sau đây có thể là một số câu.
Đầu tiên câu hỏi về niềm tin, về tương lai phía trước của đất nước: Liệu Việt Nam có thực sự trở thành Rồng?  Hay không thể nào thành Rồng? Nếu niềm tin là Việt Nam sẽ hóa rồng, thì cách nghĩ và cách làm sẽ khác, nếu niềm tin là không thể hóa rồng, sẽ phải nghĩ hướng khác, làm cách khác.
Để biết Việt Nam có trở thành Rồng hay không, việc đầu tiên là phải quay lại để nhìn về lịch sử, xem chúng ta có thực sự mang trong mình dòng máu của Rồng hay không? Và quan trọng hơn, để nhìn vào quá khứ, đã có giai đoạn lịch sử nào chúng ta mang hình bóng của một chú Rồng con?
Câu hỏi tiếp theo, là hàng triệu người Việt Nam hiện có lý tưởng, chí hướng gì chung không? Lý tưởng ở đây không phải là lý tưởng có nguồn gốc từ một chủ nghĩa hay triết thuyết nào đó, là những thứ trong suốt lịch sử của mình, cho đến đến tận ngày nay chúng ta vẫn phải đi vay mượn. Phần nhiều những người cùng chí hướng (đồng chí) đi theo những lý tưởng ấy, cho đến nay cũng không còn tin vào lý tưởng mà họ đã từng tin, không còn tin vào đồng chí của mình, tức là gọi là “đồng chí” mà lại không cùng chí hướng.
Dù Niềm Tin là Việt Nam sẽ hóa rồng, hay Niềm Tin là Việt Nam sẽ chỉ có số phận làng nhàng giun dế, thì để cứu vớt cái xã hội đang phân rã cao độ này rồi đưa đất nước đi đúng con đường mà nó cần phải đi, để thoát khỏi vũng lầy tăm tối, thì vẫn cần một hoặc nhiều lý tưởng, một hoặc vài chí hướng. Những lý tưởng và chí hướng ấy phải có cùng: gốc rễ từ chính dân tộc mình và hướng về phía trước là phát triển đất nước. Có cái chung như vậy thì nỗ lực của mỗi người, dù theo đuổi lý tưởng nào, chí hướng nào, sẽ đều góp phần phụng sự đất nước.
Một câu hỏi nữa, về sự chuyển giao liên tục giữa các thế hệ, đặc biệt là giữa các thế hệ lãnh đạo. Bất cứ một sự gián đoạn nào, dù là gián đoạn giữa các thế hệ doanh nhân, tri thức, hay gián đoạn giữa các thế hệ lãnh đạo, đều gây ra sự phân rã xã hội. Đặc biệt là sự gián đoạn lãnh đạo đất nước, sẽ tàn phá di sản quá khứ, làm thất truyền kinh nghiệm dựng nước, làm vỡ nát nền tảng văn hóa và luân lý của xã hội, dẫn đến xã hội không chỉ phân rã mà có thể sụp đổ từ vật chất đến đạo đức, lối sống.
Một câu hỏi cũng nên đặt ra, không phải là làm thế nào để trở thành Rồng, mà phải định nghĩa Rồng là gì rồi từ đó mới biết cách để trở thành Rồng.
Cuối cùng là câu hỏi về cơ hội. Liệu có cơ hội nào để Việt Nam trở thành rồng hay không. Cơ hội ấy không tự ta tạo ra, mà phụ thuộc vào hoàn cảnh thế giới. Nhưng nắm lấy cơ hội, lại là một việc chúng ta phải chủ động.
Bắt đầu từ câu hỏi: Quốc gia Rồng là một quốc gia như thế nào?
Làm Rồng phải chăng là khè lửa dọa dẫm bắt nạt các nước láng giềng, hay là đánh nhau tay bo thắng vài cường quốc? Làm Rồng phải chăng là có thể đánh đu ngang hàng với các quốc gia phát triển? Hay là làm rồng tức là có những doanh nghiệp lớn vươn  ra thế giới? Làm rồng có lẽ nào chỉ cần có những tầng lớp ăn trên ngồi chốc giàu có ngang ngửa với giới elite tư bản hàng đầu khu vực hoặc thế giới?
Làm Rồng, thực ra hiền lành hơn nhiều. Một quốc gia hóa rồng là một quốc gia hội nhập và có đóng góp cho văn minh nhân loại. Một quốc gia có đóng góp cho văn minh nhân loại, thì tự khắc sẽ có vị thế và được thế giới chia cho phần lợi lớn. Như Anh-Mỹ mấy trăm năm nay, như Nhật cả trăm năm nay. Và như Hàn Quốc rất gần đây. Một quốc gia chỉ thụ hưởng hay vay mượn của văn minh nhân loại, thì phần của cải mà nó được thế giới chia cho, sẽ chỉ là canh thừa cơm cặn, quá lắm là chỉ đủ thoát chết đói, thoát nghèo hay giàu xổi. Còn lâu mới đạt đến đẳng cấp thịnh vượng bền vững. Ở những quốc gia vay mượn, có rất nhiều trên thế giới này, chỉ có một lớp người giàu có nhờ lèo lái đặc quyền để kiếm ăn trên lưng đồng bào hoặc tài nguyên của đất nước.
Đấy mới là điều kiện đủ để được coi là Rồng.
Điều kiện cần chính là Độc Lập, Thống Nhất bờ cõi và có chung Một Ngôn Ngữ.
Một con rồng chỉ là con Rồng khi nó thực sự làm chủ được vận mệnh của mình và có giang sơn của riêng nó. Một đất nước muốn hóa rồng, đầu tiên cần phải là một quốc gia, có chủ quyền, và nhân dân của quốc gia ấy có những người lãnh đạo của chính mình.
Với những điều kiện như vậy thì mầm mống của nước Việt Nam hiện nay mới thực sự hiện hữu, hay nói cách khác là con rồng sơ sinh xuất hiện trên mảnh đất chữ S này, chỉ hơn 10 thế kỷ. Đó là khi Khúc Thừa Dụ khéo léo đưa nước ta thoát khỏi 1000 năm bắc thuộc. Một ngàn năm là quãng thời gian rất dài. Dài đến mức khi nước ta thoát khỏi sự kiểm soát của người Hán phương Bắc thì kể từ đấy lãnh đạo đất nước Tàu luôn coi nước chúng ta là mảnh đất ly khai. Kể từ bấy đến nay, họ đã mang quân toan cướp nước ta khoảng 9 lần. Trong đó đáng kể nhất có thời kỳ bắc thuộc lần IV và người giải phóng đất nước lần đấy là Lê Lợi, đã mở ra một kỷ nguyên lớn cho dân tộc, đất nước. Những lần cướp nước khác, không tính Nguyên Mông, thì trận thua tơi bời của nhà Thanh trước quân Tây Sơn, cũng gây ra biến động lớn cho xã hội  và chỉ hơn 10 năm sau chiến thắng Đống Đa, Việt Nam hiện hình thực sự là một con rồng nhỏ trong khu vực.
Ở thời điểm sơ sinh của nước Việt, sau khi Khúc Thừa Dụ khéo léo đỡ đầu cho rồng ra đời, thì Ngô Quyền chính là vị vua phục quốc đầu tiên. Sau chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền không chỉ chính thức tái thành lập nước Âu Lạc mà còn dựng nên hoàng gia đầu tiên, tức là những người lãnh đạo thực sự của đất nước, tức là Nhà Ngô.
Đây cũng là thời kỳ nước Việt thoát khỏi Trung Hoa mạnh mẽ nhất. Nếu như  sự phát triển thần kỳ của Nhật Bảnsuốt 100 năm qua vẫn được coi là do họ Thoát Á Nhập Âu (Thoát Á Luận, rời bỏ văn minh Châu Á, ảnh hưởng mạnh của Trung Hoa, để thu nhập văn minh Châu Âu), thì trong lịch sử Việt Nam chỉ có một lần duy nhất là Ngô Quyền thoát khỏi cái bóng Trung Hoa. Điều kỳ quặc là sau rất nhiều lần biến động lịch sử, mỗi lần đất nước sang trang mới, thì chính quyền Đại Việt/Đại Nam có xu hướng ngả về mô hình Trung Hoa và thần phục (ít nhất là trên mặt ngoại giao) cái nước này. Chỉ có hai lần hiếm hoi có dự định bật lại thiên triều mà bất thành, một là Lý Thường Kiệt, hai là Quang Trung. Cũng có thể tính thêm thời TBT Lê Duẩn.
Con rồng Việt sơ sinh bắt đầu lớn, rất chậm nhưng chắc chắn. Khi nhà Lý dời đô về Thăng Long, con rồng ấy bắt đầu chuyển mình. Từ thế kỷ 11 (nhà Lý) đến thế kỷ 15 (nhà Lê), nước Việt non trẻ ấy đã trở thành Đại Việt, liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh trong 400 năm để mở rộng bờ cõi gần gấp đôi (từ Thanh Hóa, xuốngphía Nam). Thời nhà Lý bắt đầu mở cõi vào Quảng Trị. Đến thời của ông vua tài năng nhất lịch sử Việt Nam, Lê Thánh Tông, nước Việt đã mở rộng đất đến tận Phú Yên. Lê Thánh Tông không chỉ xây dựng một đất nước có kỷ cương, luật pháp, văn hóa phát triển mà còn cải cách quân đội cực giỏi, đích thân cầm quân đi chinh phạt các vương quốc xung quanh, chiếm đất, mở mang bờ cõi.
Sự liền mạch của các gia tộc lãnh đạo, hay còn gọi là Hoàng Gia, kéo dài liên tục trong quãng thời gian gần 8 thế kỷ , có lúc thịnh lúc suy, nhưng về cơ bản là đất nước phát triển cả về văn hóa, kinh tế và đặc biệt là mở rộng diện tích đất nước.
Sự bội phản của họ Mạc với nhà Lê là biến cố đầu tiên gây ra các biến loạn xã hội lớn lao sau này, có ảnh hưởng sâu đậm đến tận ngày nay. Nhưng cũng qua cơn biến loạn ấy mà con rồng thiếu nhi Đại Việt chuyển mình trở thành con rồng thiếu niên Đại Nam dưới thời vuaMinh Mạng. Sự chuyển mình qua biến loạn ấy, có lẽ cũng sẽ lặp lại trong tương lai gần.
Gia đình họ Trịnh, hiểu rõ giá trị của việc liền mạch của lãnh đạo đất nước, sau khi dẹp nhà Mạc tuy đủ sức lật nhà Lê, họ Trịnh vẫn nép mình đứng sau một bước. Nhờ thế mà Nhà Lê tồn tại thêm cả hai trăm năm mà nhà Trịnh thực chất nắm kinh tế và quân sự điều hành cả nước. Cũng nhờ nấp sau bóng của Nhà Lê mà gia đình Trịnh phần nào đó thoát khỏi thể chế nhà nước phong kiếnTrung Hoa mà các triều đình phong kiến Việt kiên trì nhắm mắt sao chép suốt hàng trăm năm trước đó.
Khi Tây Sơn tiến quân vào Thăng Long, không chỉ dinh thự nguy nga của Trịnh Sâm bị đốt tan hoang, gia tài văn hóa bỗng dưng bị xóa sổ, gia đình Trịnh bị tận diệt mà cả kho kiến thức và kinh nghiệm trị quốc của nhà Trịnh tan thành mây khói. Để lại một xã hội miền bắc thời Mạt Lê thật điêu tàn, một xã hội là bản sao mờ nhạt của Trung Hoa, một bản sao với người dân kém cỏi hơn, xấu xí hơn, cay nghiệt hơn.
Kinh nghiệm trị nước, dựng nước, xây dựng quân đội, kinh thương của nhà Trịnh là sự kế thừa của nhiều trăm năm trước, kể từ thời Ngô Quyền, cộng với trải nghiệm hai trăm năm phò Lê của họ. Kho kinh nghiệm ấy bỗng dưng một ngày biến mất trong tao loạn. Trong những kinh nghiệm trị nước bị mất đi, đáng tiếc nhất là những bài học “thoát khỏi hệ tư tưởng Trung Hoa, tức là Thoát Á”.
Tài năng trị nước, nấp đằng sau bóng hoàng gia Lê, của họ Trịnh cũng không được ai nhìn nhận. Ngay cả ông chúa Trịnh Sâm, người làm tan nát dòng họ của mình, ở những lúc xuất thần vẫn cử tướng cầm quân vào Nam, vô tình gây ra biến cố lớn lao ảnh hưởng sâu sắc đến nước Việt Nam hiện đại sau này.
Một bài học lớn về sự thủ tiêu thế hệ lãnh đạo và di sản của họ, khiến cho kiến thức và kinh nghiệm trị nước và dựng nước bị thất truyền, vậy mà không ai chịu nhìn nhận để sau này lặp lại đến mấy lần. Mới  chỉ  vài chục năm trước đây, vẫn còn lặp lại.
Giai đoạn gia đình họ Trịnh bị tiêu diệt cũng là thời kỳ mà người Việt giết chóc nhau thảm khốc. Quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, kiêu binh Thanh Nghệ của chúa Trịnh bỏ trốn về quê, trên đường về phải giả câm, mở miệng ra nói giọng Thanh Nghệ là bị dân địa phương giết. Sau này đến lượt vua quan nhà Tây Sơn bị quân Nguyễn Ánh quây, rút chạy đến Nông Cống Thanh Hóa, lại bị dân ở đây bắt trói đem nộp. Dấu ấn kỳ thị vùng miền và chà đạp lẫn nhau, dù cùng là người Việt, đã bắt đầu xuất hiện và đi sâu vào gene của người Việt như một thứ gene cừu hận (feud), không ai chịu chữa mà còn làm cho nó nặng thêm.
Di sản trị quốc, dựng nước, di sản văn hóa đỉnh cao … của những người Việt đồng bằng bắc bộ, tích lũy hàng mấy trăm năm, kể từ thời Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng (938) đến thời Trịnh Sâm (1787)  bị xóa sạch trơn bởi cơn cuồng phong nội chiến kéo dài 30 năm mà Tây Sơn là kẻ chiến thắng.
Thế nhưng cái may mắn là nhà Trịnh (Trịnh Kiểm) nổi lên mà nhà Nguyễn (Nguyễn Hoàng con trai của Nguyễn Kim) phải đối kháng đến mức phải bỏ xứ mà đi. Cái phần đất mà suốt mấy trăm năm người Việt chiến đấu để mở rộng, lúc đó mới chỉ đến Phú Yên, là bàn đạp để chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào đến đất Đồng Nai rồi mở qua miền tây đến tận Cà Mau, mở rộng bờ cõi lên gấp ba, so với những năm nước Việt sơ sinh đầu nhà Lý.
Cái may mắn thứ hai  là trước khi suy tàn, Trịnh Sâm cầm quân đánh vào đất Thuận Hóa của Chúa Nguyễn. Làm sụp đổ dòng họ này và làm quân Tây Sơn mạnh lên, hùa với quân Trịnh mà truy sát quân Nguyễn. Nhờ đấy mà đẩy chúa Nguyễn đi qua đất Tiền Giang, Bassac rồi xuống tận Cà Mau.
Nhờ quá trình Nam tiến ấy mà kinh nghiệm mở cõi, trị nước, kinh thương và xây dựng quân đội của người Việt  không bị mất đi. Và còn hơn thế, kiến thức và kinh nghiệm trị nước của các chúa Nguyễn lại được áp dụng trên những vùng đất xưa kia thuộc về các vương quốc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, thay vì Trung Hoa. Đó là Chàm, Khmer. Hay những vùng đất mới chịu ảnh hưởng khai phá của những người Hoa ưu tú, ly khai kháng chiến, phản Thanh phục Minh ở phía cực nam của vùng đất hình chữ S.
Tây Sơn diệt được Trịnh mà không diệt được Nguyễn. Quang Trung đánh thắng mọi kẻ thù cả nội lẫn ngoại xâm. Về cơ bản có công lớn thống nhất bờ cõi. Nhưng lại để xổng một kẻ duy nhất dòng dõi hoàng gia là Nguyễn Ánh. Sau này Nguyễn Ánh quay lại không chỉ diệt nhà Tây Sơn, củng cố lại giang sơn bờ cõi mà còn đem di sản kinh nghiệm lãnh đạo mấy trăm năm để lãnh đạo một nước Việt mới mà ông đặt tên là Việt Nam, lên ngôi lấy tên Gia Long (Gia Định + Thăng Long).
Nguyễn Ánh lên ngôi rồi sau này là Minh Mạng nối ngôi, hai vị vua lừng danh này mang kinh nghiệm dựng nước của cha ông mình vào việc thống nhất hệ thống chính trị và quân đội, kinh tế cho cả ba miền. Đây là một bước tiến lớn so với thời Quang Trung, ba miền cát cứ ba vương, quân đội riêng, ngân sách riêng. Việc quyền lực và nguồn lực, đặc biệt là kinh tế và quân sự thu về một mối khiến cho Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn các nước xung quanh (vốn yếu kém hơn hẳn về thể chế/nhà nước, quân sự,  nông nghiệp và ngoại thương). Các khu vực chư hầu phía nam bị bắt sát nhập vào nước Việt Nam (đến thời Minh Mạng đổi thành Đại Nam), các vùng đất tự chủ của người Hoa cũng bị sát nhập. Bờ cõi phía nam mở rộng tối đa về tây nam bộ và kéo dài đến tận biển cực nam của tổ quốc.
Đó là lúc rồng non trở thành thiếu niên.
Đó cũng là thời kỳ Việt Nam có bờ cõi rộng nhất (rộng hơn cả bây giờ)
Đó cũng là thời kỳ Việt Nam được các nước xung quanh kinh sợ nhất. Nhà Thanh, quân Xiêm sợ chết khiếp từ thời Tây Sơn. Miến Điện chỉ chứng kiến vài lần xuất quân của Tây Sơn ở Lào mà còn phát hãi. Vua Khmer (Chân Lạp) và Lào thần phục Việt Nam mà chịu làm chư hầu.
Đại Nam cũng là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên mà Mỹ để ý đến và Tổng thống Mỹ cử người mang thư đến đặt quan hệ giao thương.
Có độc lập tự chủ rồi, điều kiện cần để thành con Rồng đã có. Nhưng điều kiện đủ, là phải hòa mình vào thế giới, thì tiếc thay lãnh đạo của Đế quốc Đại Nam ấy đã tự mình để mất.
Các nhà lãnh đạo của con Rồng thiếu niên ấy, đã quá tự tin vào sức mạnh của đất nước mình, quá tự tin vào tài năng và kiến thức lãnh đạo của mình, quá sùng bái mô hình nhà nước phong kiến và thể chế cai trị của nó, đã đóng cánh cửa không cho con rồng thiếu niên tiếp cận với thế giới phương tây. Cơ hội rất lớn để con rồng thiếu niên Việt Nam quẫy mình thành con rồng trưởng thành, đã bị bỏ lỡ một cách cực kỳ đáng tiếc.
Những nhà lãnh đạo ấy là Vua Minh Mạng và các hậu duệ của ông ta.
Minh Mạng là vị vua tài giỏi có nhiều cải cách mạnh mẽ. Ông cải cách hành chính để cai trị, cải cách quân đội, cải cách chế độ làm quan (chấm dứt cha truyền con nối, luân chuyển quan chức). Cải cách giáo dục, thi cử, bổ nhiệm quan chức.
Minh Mạng cũng là người bỏ tên nước Việt Nam và thay bằng Đại Nam (1820). Cái tên Việt Nam biến mất hơn một thế kỷ cho đến năm 1927 mới xuất hiện trở lại nhờ Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông sử dụng tên Việt Nam để đặt tên cho  đảng của mình là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khởi nghĩa Yên Bái, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của mình bị Pháp chặt đầu (tháng 6, 1930). Ở pháp trường Nguyễn Thái Học đã hô: Việt Nam Muôn Năm (Việt Nam Vạn Tuế). Kể từ hôm đấy, cái tên Việt Nam tái sinh và trỗi dậy trong lòng dân Việt.
Dưới thời Minh Mạng, tiếng Việt là tiếng bắt buộc, thay thế cho tiếng Hoa và Khmer ở Gia Định (bao gồm cả miền tây). Đây là sự kiện cực kỳ quan trọng bởi kể từ đây, nước Việt Nam rộng lớn, có bờ cõi, có hệ thống lãnh đạo riêng của mình, và sử dụng chỉ một tiếng nói, và là tiếng riêng của mình trên toàn lãnh thổ.
Gần một trăm năm sau khi Minh Mạng cưỡng bức sử dụng tiếng Việt (ngôn ngữ nói) ở Nam Kỳ, tới tận những năm 191x-192x, các nhà hoạt động chính trị phản đế hàng đầu của Việt Nam ở hải ngoại như NAQ, PBC, PCT vẫn còn viết thư (ngôn ngữ viết) cho nhau bằng chữ Hán. Để thấy rằng, để lãnh đạo cao nhất của đất nước có thể nói chuyện với mọi tầng lớp nhân dân, cần một tiếng nói chung, một chữ quốc ngữ đến như thế nào.
Người Việt vốn có nhiều gốc gác từ Mường, Thái, Khmer, Chăm, và Hoa, người Kinh thậm chí còn có nhiều họ gốc Tàu, cho đến thời điểm này ít nhất có hai cái chung: một là tiếng Việt, hai là thần dân nước Việt, một sự bắt đầu của một quốc gia hiện đại với các công dân và lãnh thổ của nó.
Nhân đây, mỗi lần cả nước ồn ào và lãng phí tổ chức Giỗ Tổ, không biết những người Việt gốc Chăm, gốc Khmer nghĩ gì. Họ cũng là công dân của đất nước này, học cũng là người Việt, mà sao lại phải nhớ ngày giỗ ông tổ chưa bao giờ liên quan đến họ. Liệu họ có sẵn sàng phục vụ một quốc gia mà họ là công dân, nhưng lại không đoái hoài gì đến tổ tiên của họ hay không? Nhất là những người Chăm, Khmer rồi Bahnar, Giarai … ấy đang sống trên mảnh đất của của tổ tiên họ hàng ngàn năm trước. Trẻ con người Việt gốc Chăm, hoặc Khmer mà học sách giáo khoa, dạy rằng chúng là con rồng cháu tiên, thì cũng lố bịch chả kém gì người Việt nam thời Pháp thuộc phải học sách giáo khoa viết tổ tiên của họ là người Gauloises.
Trước thời Minh Mạng, việc cấm đạo lúc có lúc không nhưng chưa lúc nào cực đoan. Chúa Trịnh, Chúa Tây Sơn, Chúa Nguyễn đều có lúc ngăn ngừa, lúc ủng hộ, lúc sử dụng các linh mục và thương nhân liên quan đến truyền giáo. Đến thời Minh Mạng là cấm ngặt nhất. Và đó là lúc người đi đạo, bên lương, bên giáo, lao vào chém giết nhau, người với người, làng với làng, để rồi cùng với mối cừu hận vùng miền, người Việt bắt đầu cừu hận nhau cả về khác biệt tư tưởng. Khoảng cách từ giết nhau vì khác tín ngưỡng đến giết nhau vì khác đảng phái, khác lý tưởng chính trị chỉ là một sợi tóc. Và lịch sử đã cho thấy người Việt hãm hại nhau tàn khốc hàng chục năm chỉ vì khác nhau ý thức hệ vay mượn. Những người nói cùng một thứ tiếng, nhiều đời lớn lên cùng một mảnh đất, mà giết nhau vì cừu hận có nguyên nhân sâu xa từ tín ngưỡng hoặc hệ phái chính trị (đều là vay mượn du nhập) thì cách đó một sợi tóc là sự thù hận giữa người Việt ở lại và người Việt ra đi, là người Việt chiến thắng và người Việt thua cuộc.
Thế nên, từ đây thấy rất rõ, là rất cần những lý tưởng, chí hướng không chỉ hấp dẫn để cuốn hút hàng triệu người Việt đi theo, mà lý tưởng ấy phải có gốc rễ và tương lai trên chính mảnh đất này, gắn với dân tộc này. Giống như người Do Thái, có thể có nhiều nhóm người chống hoặc ghét nhau, nhưng cùng phụng sự cho lý tưởng Phục quốc, xây dựng một quốc gia Do Thái cho chính họ là Israel hiện nay.
Thế rồi lịch sử sau này vẫn lặp lại. Khi nhà nước cách mạng nổi lên, Nhà Nguyễn bị xóa bỏ hoàn toàn, không chỉ công lao, mà kiến thức và kinh nghiệm dựng nước của họ, nhất là các bài học thất bại đau xót, cũng bị xóa mất. Văn hóa, kiến trúc của họ cũng bị đập bỏ. Ngay cả di sản văn hóa và kinh nghiệm lãnh đạo của một giai đoạn VNCH ngắn ngủi, vốn có một chút kế thừa của Nhà Nguyễn cũng bị xóa đi y như thế.
Và như đã nói từ đầu, đấy chính là một trong những căn nguyên của tan rã xã hội như ta đang phải chứng kiến.
Quay lại với sự hội nhập với Phương Tây của Minh Mạng. Sự giàu có và mua sắm được vũ khí hiện đại của Trịnh Sâm, là nhờ giao thương ở Phố Hiến. Nhà Nguyễn chậm chân hơn nên yếu hơn. Quân đội Tây Sơn mạnh mẽ, thiện chiến, hiệu quả, là nhờ giao du và nhập khẩu công nghệ từ cảng Quy Nhơn với thương lái Hoa và cướp biển, cũng như vay mượn kinh nghiệm chiến đấu của người Chăm, người Hoa lưu vong. Trịnh và Tây Sơn chập lại, đánh Nguyễn chạy ra biển, chạy cả qua Xiêm. Vị tướng trẻ qua Xiêm rước chúa Nguyễn Ánh trở về, cũng lại là một tay giao thương giỏi, là Châu Văn Tiếp, bạn buôn của Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Nhạc, cũng giống như Nguyễn Ánh, đều học toán và thiên văn từ những người truyền giáo Châu Âu mà nhờ đó một người từ lái buôn trầu kiêm quan thuế của chúa Nguyễn mà nổi dậy đánh quân Nguyễn tơi bời. Nguyễn Ánh, kẻ nhiều lần thoát hiểm trong gang tấc, nhờ học hỏi kiến thức Châu Âu, mà lần hồi quay lại giết hết kẻ thù, làm vua cả một nước.
Còn với chúa Nguyễn Ánh, ông không chỉ du nhập công nghệ phương tây mà còn sử dụng người của họ để có kiến thức. Sự hội nhập ấy mang sức mạnh quân sự và kinh tế (không thông qua cướp bóc như Tây Sơn) của Chúa Trịnh rồi đến nhà Nguyễn. Quán tính của nó mạnh đến nỗi khi Minh Mạng quay lưng lại với phương tây, đóng cửa với thế giới bên ngoài, cấm đạo, thì khoa học kỹ thuật của người Việt thời Đế quốc Đại Nam đã đủ sức chế ra rất nhiều kiểu máy móc dùng trong sản xuất và quân sự.
Với vị thế của quốc gia lớn, uy tín quân sự lẫy lừng như vậy, lẽ ra Minh Mạng nên nhìn ra bên ngoài thế giới mà thay đổi cách ngoại giao. Khi quân đội có uy tín, thì ngoại giao dễ chủ động, cái khôn ngoan là nhìn vào mâu thuẫn và đồng thuận giữa các nước, để thu cái lợi về cho quốc gia. Nhưng Minh Mạng vẫn duy trì ngoại giao hình thức là triều cống (với Trung Hoa) và bảo hộ (với láng giềng chư hầu), đồng thời đóng cửa và nghi kỵ phương tây. Chính sách này ngay lập tức gây chiến tranh với Xiêm trên đất Lào và với người Khmer trên đất Chân Lạp, tức là chiến tranh trên vùng đất thuộc quyền bảo hộ của mình. Kết quả là thua và mất đất, mất ảnh hưởng (184x). Bài học lớn về ngoại giao này (quân đội hùng mạnh và khai thác mâu thuẫn hoặc đồng thuận giữa các quốc gia khác) rất tiếc sau này lại bị thất truyền, kinh nghiệm đau thương không được truyền lại cho đời sau, để rồi hơn 100 năm sau (197x, 198x) lịch sử đau thương lặp lại dẫn đến sự suy yếu cả kinh tế, quân sự và vị thế ngoại yếu kém so với kẻ thù trực diện là những gì hiện tại chúng ta bắt đầu phải chịu đựng.
Sau khi Minh Mạng qua đời, con rồng thiếu niên Việt Nam ngay lập tức suy yếu. Quân Chân Lạp đánh quân Nguyễn chạy về An Giang, và biên giới lãnh thổ có lại về đúng chỗ đấy  đến ngày nay. Tương tự như vậy, quân Xiêm đánh quân Việt ở Lào, cũng phải bỏ đất mà chạy về.(Sau này một phần đất của Đại Nam, là Hoàng Sa, cũng bị chiếm mất).
Khúc quanh lịch sử này là một bài học cực lớn về để lỡ cơ hội. Nước Việt đã ngấp nghé ở ngưỡng để con Rồng chuyển từ thiếu niên qua rồng trưởng thành, thì chính sách đóng cửa đã làm lụn bại con rồng ấy. Điều kiện cần là độc lập, thống nhất bờ cõi, có tiếng nói chung, cơ chế hành chính giáo dục chung, tất cả những cái ấy Đại Nam/Việt Nam thời đầu nhà Nguyễn đều có. Nhưng họ thiếu hẳn đi điều kiện đủ, đó là mở cửa hội nhập, tiếp cận những nền văn minh có giá trị luân lý sâu sắc hơn, đạo đức và lối sống nhân văn hơn, tư tưởng sáng suốt hơn; tiếp cận các đất nước có thể chế chính trị tốt hơn, vận hành kinh tế xã hội hiệu quả hơn, giàu sáng tạo hơn.
Và thế là con Rồng thiếu niên bị đập cụt móng vẫn tiếp tục ở yên trong vũng nước.
Rất may là các nước lân bang, từ Trung Hoa, đến Miến Điện, Thailand, cũng rơi vào hoàn cảnh giống Việt Nam, tức là đóng cửa hoàn toàn, hoặc mở cửa lừng chừng, độc lập nửa vời, … và do đó cũng không hóa rồng được như Nhật Bản. Còn rất không may là chính các nước ấy, giật mình tỉnh ngộ trước Việt, và đã bỏ xa Việt Nam rất xa. Họ có thể đã tiệm cận với thế giới của Rồng, trong khi Việt Nam vẫn còn nghi hoặc với câu hỏi lên Rồng hay chịu đời giun dế.
Nhật bản xuất Á nhập Âu sau một thời gian dài đã trở thành cường quốc quân sự, tham gia vào phe phát xít để đánh nhau với cả thế giới. Thế nhưng chỉ ngay sau khi gây chiến, phương tây đóng cửa với Nhật, lập tức Nhật bị tụt hậu về công nghệ quân sự và thua cuộc chiến. Sau chiến tranh, Mỹ lại mở cửa cho Nhật, và họ lại phải triển lên trình độ cao như chúng ta đã thấy.
Quan trọng hơn, sự hội nhập về phía phương tây của người Nhật không làm mất đi bản sắc của họ, thậm chí còn ngược lại, bản sắc của người Nhật còn quá đặc sắc so với phần còn lại của thế giới. Thể chế kỳ quặc của họ vẫn có cái văn minh đón nhận từ nền tảng chính trị và thể chế Châu Âu, lại vẫn có một ông vua làm lãnh đạo tinh thần cho cả nước.
Trong khi đó Việt Nam, trải qua bao nhiêu thời kỳ, từ Minh Mạng, đến VNDCHH ở Miền Bắc và VNCH ở Miền Nam, và đến tận ngày nay, đều e dè với sự mở cửa hội nhập. Một trong những lý do e sợ hội nhập là một lý do rất đần độn là để bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc. Nhưng ngay cả khi hỏi một người hăng hái bảo vệ bản sắc dân tộc nhất, rằng bản sắc của Việt Nam là gì, thì câu trả lời nếu có cũng sẽ hết sức ngớ ngẩn. Vì chắc chắn không ai biết bản sắc Việt nam là gì hết.
Chỉ khi nào hội nhập toàn diện và sâu sắc với thế giới bên ngoài, va chạm cọ sát với các xã hội có các nền văn minh khác hẳn chúng ta, thì lúc đấy chúng ta mới nhìn thấy được bản sắc của chính mình. Không hội nhập đủ rộng và đủ sâu với thế giới, thì không thể nào tự nhìn thấy bản sắc thật nhất, rõ nhất của mình được. Và chỉ khi hội nhập đầy đủ, chúng ta mới thấy được bản sắc của mình để mà bảo tồn và phát triển, nếu như thực sự chúng ta có cái gọi là bản sắc.
Bản sắc nếu có ấy, chắc chắn sẽ rất đa màu. Nó sẽ có văn hóa của người Việt châu thổ sông hồng, bị ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Trung Hoa nhưng chỉ là bản sao xấu xí. Nó sẽ có thể có tinh thần kiên cường của người Việt miền trung, vốn là dân biên cương khốc liệt có giao thoa với văn hóa chiến tranh của các vương quốc bị ảnh hưởng của Ấn Độ ở phía Nam trung bộ ngày nay. Nó cũng sẽ có văn hóa rụt rè, bi ai mất nước nhưng cứng cáp và sâu sắc ở bên trong của người Việt nam tiến và người Việt gốc Chăm sinh ra và lớn lên trên vùng đất của vương quốc văn minh và hưng thịnh Chăm Pa. Nó cũng sẽ có văn hóa hồn nhiên và bao dung của người Việt gốc Khmer Chân Lạp, và cả người Hoa bỏ xứ.
Chính vì thế, rất cần có những lý tưởng có gốc rễ từ dân tộc Việt đa màu, những chí hướng xây dựng đất nước mà thực chất mới chỉ hoàn thiện bờ cõi hơn 200 năm (kể từ 1802 khi Gia Long lên ngôi) và ngôn ngữ chung là tiếng Việt được sử dụng chính thức và bắt buộc trên cả nước còn có thời gian ngắn hơn nữa, chỉ khoảng 180 năm. Để dễ so sánh về thời gian, hãng bia Heineken có tuổi đời đến năm nay là 140 năm. Tức là phải có những lý tưởng và chí hướng xây dựng một quốc gia Việt Nam phồn thịnh, không phân biệt gốc gác về chủng tộc, tôn giáo và văn hóa của công dân, miễn là nói cùng thứ tiếng và sống trong cùng lãnh thổ quốc gia.
Quay lại với hội nhập. Trong quá khứ, các bậc tiền bối  cũng đã cố gắng hội nhập với thế giới, không chỉ Trung Hoa, mà còn với văn minh Phương Tây nữa. Thế nhưng việc hội nhập và phương tây hóa thẳng với nước Pháp, lúc đó đang là mẫu quốc của thuộc địa An Nam, đã thất bại. Người dân của một dân tộc nô lệ thì việc hội nhập và phương tây hóa đến đâu, cũng vẫn là hội nhập và văn minh hóa nô dịch. Nó là sự văn minh hóa cưỡng bức, để làm lợi cho giới chủ thực dân, là những người làm chủ và khai thác bóc lột, chứ không phải là sự hội nhập, phương tây hóa chủ động của một dân tộc được lãnh đạo bởi những cá nhân ưu tú của chính dân tộc mình. Ngay cả một con rồng thực sự mà bị huấn luyện và dẫn dắt, cũng sẽ không còn là con rồng nữa. Nó là con thú nuôi.
Cũng có những bậc tiền bối khác đã chủ động thoát khỏi sự dẫn dắt của người Pháp thực dân, tự mày mò qua Nhật để hội nhập và tiến hành phương tây hóa qua cánh cửa Nhật Bản. Thực dân Pháp ngay lập tức nhìn ra sự nguy hiểm trong phong trào Đông Du. Họ thấy người Việt đang tạo ra điều kiện đủ (hội nhập với văn minh thế giới) khi chưa có điều kiện cần (độc lập). Nên phong trào bị dập tắt. Mặc dù bị dập tắt như vậy, nó vẫn đưa ra được một thể chế có thể nói là cực kỳ lý tưởng vào lúc đó, thể chế quân chủ lập hiến của ông hoàng Cường Để và các chí sỹ như Phan Bội Châu. Thể chế này là sao chép thể chế của nước Nhật.
Mặc dù phong trào của ông hoàng Cường Để toi từ trong trứng, nhưng một người tham gia hoạt động bí mật của phong trào này là Ngô Đình Diệm đã thấu hiểu tinh thần phương tây hóa. Mặc dù là một ông quan đại thần của nhà Nguyễn, gia đình nho hóa cao độ và sâu sắc, nhưng khi lên cầm quyền chính Ngô Đình Diệm là người xây dựng thể chế cộng hòa y như phương tây ở Việt Nam. Đây là một ví dụ vừa hay vừa rõ ràng về cái lợi ích lớn lao mà phương tây hóa sâu sắc sẽ mang đến cho quốc gia. Thể chế do Ngô Đình Diệm xây dựng  tồn tại rất ngắn, chỉ cỡ 20 năm, lại bị bao vây bởi chiến tranh khốc liệt, nhưng những giá trị mà nó tạo ra, còn tồn tại, thậm chí tỏa sáng đến tận bây giờ.
Một người khác, không hoạt động trong phong trào Cường Để, nhưng có giao lưu với các phái viên của ông hoàng này ở London, những năm 191x, khi nhóm của Cường Để bị đánh bật khỏi Nhật. Đó chính người sau này rời London qua Pháp cuối những năm 191x, sống chung với Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường. Những năm tháng ở Pháp rèn luyện cho người thanh niên này kỹ năng ngoại giao, kỹ năng dựng phong trào, kỹ năng đấu tranh. Nhưng bản hiến pháp 1946 do ông dựng nên sau khi cách mạng thành công, phải bắt nguồn sâu sắc từ thời gian ông ở London cùng những phái viên gốc Nam Kỳ của Cường Để.
Ở thời Pháp thuộc, mặc dù bị hội nhập và phương tây hóa cưỡng bức, nhưng thời kỳ Pháp thuộc vẫn có những đúc kết kiến thức và kinh nghiệm trị nước, là do thực dân Pháp học hỏi từ nhà Nguyễn, biến kiến thức của nhà Nguyễn thành của mình, và cai trị thành công nước Việt Nam thuộc địa suốt một trăm năm.
Kinh nghiệm quản lý đất nước Việt của người Pháp, lẽ ra cũng không được để gián đoạn và mai một, mà phải chủ động nhận lấy để dùng, thì cả chính phủ của cụ Hồ miền bắc và ông Diệm miền nam đều cổ vũ “đả thực phản phong”, khiến cho kiến thức và kinh nghiệm trị nước của nhà Nguyễn và thực dân Pháp gián đoạn và mất hẳn ở miền Bắc, và chỉ còn xôi đỗ ở miền Nam nhờ ông Diệm, Nhu và các tướng lĩnh và công chức cao cấp do Pháp đào tạo.
Tầng lớp duy nhất tồn tại không hề gián đoạn giữa các thế hệ trong suốt thời kỳ này chính là doanh nhân. Khi Minh Mạng lên ngôi, do lại học hỏi mô hình phong kiến Trung Hoa, thương nhân lại bị đẩy xuống tầng lớp dưới (chính sách ức thương). Bị đẩy xuống nhưng không bị tiêu diệt. Tầng lớp này tồn tại qua thời pháp thuộc, qua cả thời kháng chiến, để rồi bị triệt tiêu ở miền bắc từ 196x đến 198x và bị triệt tiêu ở miền nam từ nửa sau 197x đến cuối 198x.
Sự gián đoạn của các thế hệ doanh nhân, mặc dù rất ngắn ngủi, gần 40 năm ở miền bắc và gần 20 năm ở miền Nam, đã làm đứt đoạn chuyển giao kiến thức, vốn liếng, kinh nghiệm và kỹ năng quản trị nặng nề đến mức doanh nhân Việt Nam tụt hậu với khu vực láng giềng, chứ chưa nói đến so với thế giới, cả thế kỷ.
Kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, một lĩnh vực không quá khó học và không quá thiếu kiến thức quốc tế để học, thế mà chỉ gián đoạn vài thập kỷ thôi, là doanh nhân đã tụt hậu và nghèo đi bao nhiêu. Lãnh đạo đất nước khó hơn nhiều, mà bị gián đoạn, thì hậu quả còn tệ đến ra sao, tự ta có thể ước chừng được.
Lại quay lại với chuyện hội nhập. Nước Trung Hoa cũng bỏ lỡ các cơ hội mở cửa để hội nhập và phương tây hóa. Đấy là lí do phương tây, sau này là Nhật xâm chiếm Trung Hoa. Khi nước này được giải phóng, độc lập, chính quyền cách mạng của Mao tiếp tục đóng cửa. Cho đến năm 1978 thì họ mở cửa ra, trước Việt Nam chúng ta. Ngay lập tức, các vùng duyên hải của Trung Quốc được tiếp cận rộng và cởi mở hết sức với Phương Tây (bao gồm cả du nhập các thể chế tự do) đồng thời cũng được phương tây ưu ái hỗ trợ để nhanh hội nhập. Chỉ trong vòng hơn ba mươi năm, khu vực duyên hải của Trung Quốc đã biến Trung Quốc thành một nước mới, phát triển, phồn thịnh, bất chấp sự nghèo nàn lạc hậu vẫn còn lan tràn trong lục địa.
Nhưng khác với Nhật Bản, Trung Quốc hội nhập chỉ rộng chứ chưa đủ sâu, cho nên Trung Quốc vẫn chưa đến đẳng cấp thật sự của rồng, là đóng góp được cho văn minh nhân loại. Tức là chưa ở đẳng cấp được chia của cải, mới chỉ húp canh thừa, mà đã giàu như thế.
Trong gian đoạn toàn cầu hóa mạnh mẽ vừa qua, và cả trong đối đầu với Trung Quốc trước mắt, Việt Nam vừa đi chậm hơn Trung Quốc và các nước trong khu vực vài bước, lại không chuẩn bị cho mình một sự giai đoạn chuyển tiếp, có tính chất cải cách mạnh, từ thể chế đến giáo dục, để gia tăng sản lượng của đất nước, tích lũy của cải quốc gia, củng cố quân đội, tăng cường hoạt động ngoại giao khai thác mâu thuẫn/đồng thuận của các nước trên thế giới nhằm kiếm thêm lợi về cho đất nước.
Rất may, biết đâu, là Trung Quốc giàu xổi rất nhanh và tinh thần hắc ám phát xít Đại Hán còn phát triển nhanh hơn. Cho nên các nước phương tây sớm hay muộn cũng đóng cửa lại với Trung Quốc. Khi bị đóng cửa, hạn chế hội nhập, chỉ trong thời gian ngắn, chắc chưa đến 10 năm, Trung Quốc sẽ tụt hậu.
Nước Việt Nam, sau 200 năm mới có một cơ hội lớn.
Hai trăm năm ấy thật dữ dội và đau thương.  Hai trăm năm vận mệnh của con rồng ấy nằm trong tay những chiến binh. Quãng thời gian hai thế kỷ:  ở giữa là trăm năm vận mệnh trong tay những sĩ quan Pháp, ở hai đầu là hai cuộc nội chiến khốc liệt kéo dài hàng chục năm. Cả hai cuộc chiến đều kết thúc bằng người thắng thống nhất đất nước và chi chít các cuộc báo thù.
Nguy cơ tụt hậu của nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc có thể là cơ hội rất lớn để thúc đẩy con rồng thiếu niên Việt Nam ngủ quên vì mất vận mệnh suốt 200 năm.
Nhưng trước hết, vẫn phải đặt các câu hỏi cốt lõi, và trả lời các câu hỏi ấy.
Huu Nguyen/5xu.

Cái chết của Boris Nemtsov nói lên điều gì?


Cái chết của Boris Nemtsov nói lên điều gì?
 
Chu Hảo
Lời dẫn: Boris Nemtsov bị bắn 4 phát súng và thiệt mạng ngay gần khu vực điện Kremlin, chỉ một ngày trước khi ông này lãnh đạo cuộc biểu tình chống chính phủ của Tổng thống Vladimir Putin, AP cho biết ngày 28.2.

Nemtsov, 55 tuổi, từng là Phó Thủ tướng những năm 1990 trong chính phủ của Boris Yeltsin. Ông đã viết một số báo cáo trong những năm gần đây tố cáo đương kim Tổng thống Vladimir Putin tham nhũng, và là một trong những chính trị gia nổi tiếng nhất trong số các phe đối lập của chính quyền Nga.

Hơn 70 năm bị nô dịch trong một thể chế toàn trị không có tính người, cuối cùng nước Nga của Lev Tolstoi, Puskin, Levitan, Tchaikovskij... cũng thoát ra khỏi vòng kim cô của ý thức hệ xôviết để nhìn thấy ngọn lửa của Tự do vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Ngọn lửa nhỏ chưa kịp bừng sáng sau giai đoạn Gorbatchov và Eltsin thì nước Nga lại lâm vào nguy cơ của một thoái trào mới, trở lại vùng tối ngày xưa. Và đến hôm nay khi Boris Nemtsov bị giết hại một cách trắng trợn và dã man thì không còn nghi ngờ gì nữa, nước Nga lại rơi vào xoáy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan được bảo kê bởi chế độ độc tài kiểu mới.

Sự kiện Nemtsov có thể sẽ là một bước ngoặt của phong trào dân chủ ở Nga. Chính sách đàn áp tự do và những hành động phản dân chủ hung hãn có thể làm cho nhiều người sợ, nhưng đồng thời cũng làm cho số người dám vượt qua nỗi sợ hãi thực thi quyền tự do biểu đạt chính kiến riêng của mình đông lên gấp bội, và từ đó một xã hội dân sự ôn hoà giác ngộ sẽ hình thành. Ở đâu cũng thế, và ở Nga càng thế! Vì ở Nga, những người hoạt động tích cực cho phong trào dân chủ còn nhiều... mặc cho từ năm 2003 cho đến nay Nemtsov đã là nhà lãnh đạo thứ tám của phong trào dân chủ bất đồng chính kiến bị ám hại.

Những lời lên án mạnh mẽ với lời cam kết sẽ tìm được và đưa ra xét xử thủ phạm của những nhà lãnh đạo Nga chỉ làm tăng thêm sự chú ý của dư luận trong nước Nga và trên toàn thế giới vào những sự thật sau đây:

- Nemtsov bị hãm hại vì ông là người bất đồng chính kiến nổi tiếng, dũng cảm lên tiếng bảo vệ Quyền Con người và Quyền Công dân ở nước Nga.

- Ông lên án mạnh mẽ tệ tham nhũng của các nhóm lợi ích chi phối nền chính trị Nga.

- Ông cực lực phản đối chính sách bạo ngược của chính quyền Nga trong vấn đề Ucraina.

- Và do đó, Boris Nemtsov chắc chắn sẽ là một đối thủ đáng gờm trên chính trường Nga.

Đáng lẽ ngày hôm nay nhà bất đồng chính kiến năng nổ và trí tuệ đã dẫn đầu đoàn biểu tình phản đối chính sách của chính quyền Nga đối với Ucraina, và có thể đã công bố những bằng chứng hùng hồn về sự can thiệp quân sự của Nga vào nước láng giềng... Nhưng ông đã ngã xuống trước sự bất ngờ, căm phẫn và tiếc thương của những lực lượng tiến bộ trong đồng bào của ông. Sự nghiệp chính nghĩa của ông sẽ mãi mãi khắc ghi trong tâm hồn Nga. Những tấm biểu ngữ “Tôi là Boris”, “Chúng ta là Nemtsov” được giương cao trên đường phố Mạc Tư Khoa hôm nay báo hiệu một tương lai tương tươi sáng cho nước Nga ngày mai.

Con đường hoà bình dẫn đến nền dân chủ quả thật hết sức cam go. Và sự hy sinh cả đến tính mạng của những nhà hoạt động dân chủ tiên phong dấn thân như Boris Nemtsov là những đột phá không thể thiếu trong tiến trình thức tỉnh lương tâm và ý thức về Quyền Con Người, Quyền Công Dân của mọi tầng lớp xã hội. Không có ai sẵn sàng cho việc ấy thì chúng ta hoặc là sẽ chẳng có gì, hoặc là chỉ có bạo lực và đổ máu.


Chung cư Hoàng Anh Gia Lai
Sài Gòn, ngày 1 tháng 3 năm 2015
C. H.

Fb/blog của chính khách: gần và xa


 

Fb/blog của chính khách: gần và xa

Phải công nhận là fb và blog làm cho chính trị gia và quan chức nói chung gần gũi với dân hơn. Nhưng đó là tình hình ở phương Tây, chứ ở VN thì chính khách vẫn còn rất xa dân. Chỉ cần so sánh những bài viết trên fb/blog của chính trị gia ở VN và đồng nghiệp của họ ở các nước văn minh sẽ thấy điểm đó rất rõ nét.

Giới chính trị gia nước ngoài người ta có fb hay blog là để chia sẻ cảm nhận, quan điểm cá nhân của họ về những vấn đề thời sự. Đọc những cái note ngắn của thủ tướng Singapore về những vấn đề thời sự rất cảm động và cảm thông cho ông. Ngoài ra, họ còn dùng fb/blog như là những thông báo cá nhân. Hôm nay họ được mời đi nói chuyện ở một đại học, hay ngày mai họ được mời đi nói chuyện ở bệnh viện, tất cả đều công bố trên fb/blog để cho phóng viên biết mà dò theo. Do đó, các trang fb/blog của họ là NGUỒN tin tức, là nói theo tiếng Anh "news maker", chứ không phải nơi đăng lại tin tức của báo chí.

Vài vị làm chính trị ở VN cũng bắt chước trào lưu fb/blog của đồng nghiệp nước ngoài, nhưng họ bắt chước … rất buồn cười. Nhìn qua trang fb/blog của họ thấy toàn là tin tức của báo khác, là văn bản hành chính của bộ họ phụ trách, là tài liệu tuyên truyền, thậm chí bài vở mang sắc thái quảng cáo (như ăn chay, ăn thịt trâu, chả giò). Đó là những bài viết mà tầm đã thấp mà mà còn thiếu khoa học tính. Những bài đó chẳng có “wisdom”, thiếu thông tin, và do đó không cho công chúng biết họ suy nghĩ gì như là một cá nhân, một con người trong cộng đồng. Tại sao công chúng phải vào trang blog của họ khi những bản tin đó được công bố trên báo? Cái mà công chúng kì vọng và muốn biết là những cảm nhận cá nhân của họ, chứ không phải tuyên truyền núp dưới vai trò quan chức.

Quan chức và chính trị gia nói chung, trong cái nhìn của công chúng, là những cỗ máy trong guồng máy chính trị. Người dân đã nghe những tiếng gầm và đã thấy khói từ những cái cỗ máy đó. Đó là những sản phẩm của cái gọi là mechanism hay cơ chế. Họ phải nói như thế, họ phải hành xử như thế, họ phải đóng kịch như thế, bởi vì guồng máy đã nhào nặn họ như thế.

Nhưng họ còn có trái tim và khối óc. Ví dụ như khi kí quyết định tử hình một tội phạm, thứ nhất và trên hết, họ làm theo bộ máy, làm theo luật pháp, nhưng đằng sau đó là những trăn trở, dằn vặt, đau đớn của một con người khi thấy một người khác phải chết. Đằng sau cái quyết định đó là những suy tư của người cha hay người mẹ có con cháu. Đó là những trăn trở không thể nào phát ra từ cái cỗ máy vì bản chất của cỗ máy là vô cảm và vô hồn. Bởi thế, công chúng muốn đọc và nghe những trăn trở và tâm tư đó. Nghe và biết để xã hội dễ thông cảm hơn và gần nhau hơn.

Nói tóm lại, công chúng cần muốn thấy những khía cạnh nhân văn của các bộ trưởng. Đó có thể là những lời phát ngôn (có thể là thủ thỉ) tình cảm được giãi bày qua trang blog. Giãi bày những tình cảm cá nhân như thế cũng là một cách chứng tỏ cho công chúng thấy họ cũng là những con người có trái tim và khối óc chứ không chỉ là những cơ phận của một guồng máy chính trị.
 

Tìm gì trong những cuộc nhậu?

Người ta tìm gì trong những cuộc nhậu?


Khải Đơn

 Có cuộc nhậu đã tháo xuống những danh dự, tháo xuống cả chuẩn mực, giới hạn, nó đẩy các ngôn ngữ thông thường của chính cơ thể và trái tim ta xuống - để học một bài học mới về sự vô liêm sỉ trong cuộc đời trước mặt.

Hôm tôi gặp anh bạn, anh bảo: "Giờ anh cầm cốc bia lên, uống với người đối diện, bia thơm, mát lạnh, thì anh uống. Không thì anh không uống luôn".

Chúng ta có bao nhiêu lần có cảm giác thực sự thấy bia thơm, ngon và mình muốn uống với người đối diện? Tôi luôn tự hỏi điều đó, khi ngồi trước những người uống cùng mình.

Vài gã đàn ông cầm từng ly bia lên, và ép người đối diện uống cho bằng hết. Cứ một lần là một cốc. Lời qua tiếng lại, xô đẩy, dằn mặt, chế giễu cậu nào trong bàn không uống được. Có lần nhậu, một cô gái từng nói, chị em mình, mỗi đứa một cốc, ép cho anh ấy xỉn chơi. Cô làm tôi lạ. Cô cười tươi, xinh ngất, người đàn ông kia nể, uống được chừng 5 - 6 cốc thì anh kia gục.

Có cuộc nhậu, khi nhìn họ uống, tôi không biết vị bia đắng hay ngọt, thơm hay gắt. Người đàn ông đầu bàn dùng từng lời cay nghiệt để ép một bạn khác uống cho bằng hết, cốc 1, cốc 2, cốc 3. Đến cả uống nước lạnh mà uống với tần độ như vậy cũng là chuyện mỏi mệt. Ở đó, người ta dùng bia. Người đầu bàn cười hềnh hệch vỗ vai cậu đang sặc bia, đắc thắng hưởng thụ cái uy quyền ngấm ngầm mà mình thể hiện được trước những đôi mắt khác trên bàn nhậu.

Một người gầy gò bước vào bàn nhậu, anh vồ lấy miếng phô mai trên bàn. Tiếng cười gượng gạo chất ngất. Anh thầm thì: "Phải tráng bao tử, để uống được bền em ạ!". Ăn quấy quá những thức thịt thà, 2 miếng phô mai, anh “hùng dũng” đứng dậy, vung ly như múa kiếm. Những cô gái cười ngất, thách thức bằng giọng đùa nhẹ bẫng. Mấy người bạn thân “hò dô” một chuyến với kẻ nhập cuộc.

Những kẻ nhậu đi tìm cái gì? Tách bạch ra rõ ràng thế thì quả không say xỉn gì được. Đám chúng tôi lớn lên, bài học đầu tiên khi đi làm là: biết nhậu. Tôi cũng uống lung tung, bất kể. Có đêm nằm ngủ trong nhà người quen, bạn tôi kể làm ở ngân hàng tỉnh cũng vậy, phải đi nhậu, phải cho người ta đụng chạm, ôm chút xíu, hoặc mình cà thẻ trả tiền.

Cuộc nhậu là phương pháp gây tê đầu tiên sẽ quật ngã trái tim bọn trẻ chúng tôi? Ta ngồi ăn với một người mình không thích, ngồi cười tươi với những người mình không quen, uống say mèm với một người không biết có làm hại gì mình không, trả tiền cho những người ăn nhậu bất kể bằng cái thẻ ngân hàng của mẹ cha, còn lương mình không đủ mua bộ quần áo mới.

Những cuộc nhậu “chính thức” đầu đời thường bắt đầu ở sở làm, nơi người ta “làm quen” với sếp, lính, anh em bằng buổi say mèm, chén chú chén anh. Từ kẻ nhút nhát, bao nhiêu bạn trai đã tháo bỏ những sự hiền lành, dễ chịu và lịch thiệp xuống, để được hòa nhập với những anh sếp béo phệ bụng miệng ngậm đầy đồ ăn, ních bia như hũ chìm? Bao nhiêu chàng trai trẻ đã tháo xuống sự chính danh đầy kiêu hãnh của mình, ngọt ngào cúi mình đưa lưng cho các anh đạp, cho các bạn đồng nghiệp chà, để hòng mong được sống sót trong những công sở kỳ dị và hỗn mang?

Bao nhiêu cô gái suốt 22 năm cuộc đời chưa bao giờ nhậu với cha, với người yêu, bỗng nhiên má hồng môi đỏ, hùng hồn ôm vai bá cổ những “anh sếp” già (và xấu) hơn cả cha và người yêu, cùng với cốc rượu nồng mà sau đó cô vội vàng tọng thêm thức ăn vào cho đỡ cay? Bao nhiêu bạn gái chưa một lần để kẻ khác sờ chạm mình thô lỗ, đã say sưa chút đỉnh, và “thôi kệ” cho sếp vui một chút, chẳng mất gì, chỉ được việc thôi?

Bao nhiêu người trong chúng ta đã quên rằng mình chưa từng nhậu với người mình yêu thương những sẵn sàng chết gục vì kẻ xa lạ?

Có cuộc nhậu đã tháo xuống những danh dự, tháo xuống cả chuẩn mực, giới hạn, nó đẩy các ngôn ngữ thông thường của chính cơ thể và trái tim ta xuống, để học một bài học mới về sự vô liêm sỉ trong cuộc đời trước mặt. Sự thành công được đo bằng số buổi ngồi nhậu được với sếp. Sự trung thành được tính bằng số cốc cạn 100% vì sếp. Sự yêu quý đồng nghiệp được tính bằng số lần mình chịu chết chìm vì 3 - 4 két bia cạnh những đồng nghiệp còn chưa nhớ hết tên.

Khi say mèm, ta không cần phải nghĩ suy về giá trị. Lời đãi bôi qua hàng lít bia giá trị hơn vạn lần giá trị của công việc ta làm được. Tình cảm trọn vẹn của đồng nghiệp được đo qua số tiền bạn trẻ ấy chịu trả cho bữa nào có sếp xuất hiện. Cuộc nhậu trở thành một chuyến bơi dài ngạt thở, ta chết chìm hay không chết chìm, có gì quan trọng đâu. Ta đang ở trong một cái hồ và tưới tắm những giá trị kỳ lạ mà thế giới đang nhuộm lên cơ thể mình.

Khi hơi thở sặc mùi bia, da tím tái vì mồi nhậu, những thù tạc chú anh trở nên hoang tàn. Giữa những cái deal công việc đầy hấp dẫn chưng ra trên kệ trong một màn đổi chác (mà khi tỉnh người ta ngại nói ra chăng?). Kế bên đó, đĩa mồi ngập mặt thịt bò rừng, trâu núi, heo rừng,… ê hề như một chuyến sát sinh.

Tôi luôn tự hỏi về giá trị của một cuộc nhậu mỗi khi sắp lờ đờ. Khi ấy, tôi thường vui mừng thấy mình đã chọn đúng người để cùng uống. Cốc bia bắt đầu cay đến khó chịu, tôi nghĩ suy lung lắm liệu mình có uống tiếp không, hay mình sẽ say để làm gì trong một ngày cùng uống với ai đó. Khi men say bóp gãy các rào cản, cơ hồ ta sẽ thành thật và trò chuyện với nhau nhiều hơn nữa với trái tim ít sợ hãi. Vào khoảnh khắc hiểu nhau hơn, người ta cũng đổ vỡ vì nhau nhanh hơn bình thường.

Cứ để bia trôi vào, nếm xem nó thơm không, lúc đó thì uống tiếp… Hoặc tỉnh táo rời đi như những người chưa từng lại gần nhau.

Chỉ là một cuộc uống buồn ghê đi… hén…