Jul 11, 2014

Bước qua lời nguyền

Bước qua lời nguyền
 
Nguyễn Trương
 
Khi nhà cầm quyền Trung Quốc chủ động trở lại gây hấn ở vùng biển của Việt Nam tại biển Đông từ tháng 5 năm nay, khắp Việt Nam và khắp những nơi có người Việt Nam sinh sống dường như đã tự nhiên có sự xích lại gần nhau hơn, bất kể những khoảng cách tâm lý xã hội, được hình thành trước đó do lịch sử. Nhà toán học Ngô Bảo Châu trong bài viết “Ôn bài” trên trang cá nhân của mình có nói “Cái mà Trung Quốc muốn chưa chắc đã là dầu hỏa, mà là sự thần phục vô điều kiện của Việt Nam”. Chính sự mong muốn xấc xược, kẻ cả đó của Trung Quốc có lẽ đã khiến tinh thần Việt Nam nổi giận và trở thành chất gắn kết cộng đồng người Việt Nam nhanh hơn. Chắc chắn chưa thể hết, nhưng những hiềm khích, thậm chí được nâng lên như những lời nguyền, có vẻ như đã vỡ dần ra, đã tan dần ra từ các hoạt động mang tính học thuật và tiến bộ xã hội có mục tiêu chung: bảo vệ núi sông bờ cõi Việt Nam, vì lợi ích của dân tộc Việt Nam. Như hai câu chuyện dưới đây.
Câu chuyện thứ nhất, ở hội thảo quốc tế “Hoàng Sa – Trường Sa: sự thật lịch sử” mới diễn ra tại Đà Nẵng ngày 20.6.2014, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng Lưu Anh Rô đã không ngần ngại sử dụng những tài liệu lưu trữ “Mật” và “Tuyệt mật” của chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ năm 1954 đến 1974 để làm bài tham luận mang tính bằng chứng lịch sử không thể tranh cãi về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa – Trường Sa. Tham luận có tựa đề “Thủ đoạn “ngư phủ - tàu lạ” của Trung Quốc để lấn dần từng bước, rồi thực hiện một cuộc “tiểu chiến tranh” cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam”. Trong tham luận này, Thạc sĩ Lưu Anh Rô đã trích dẫn lời Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu của Chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại tại Hội nghị quốc tế San Francisco có 51 nước tham dự (ngày 7/9/1951), như sau: “Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình và cũng vì vậy cần thành thật tranh thủ tất cả mọi cơ hội để dập tắt tất cả những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi (Việt Nam) trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam, theo trích dẫn trong tham luận của Lưu Anh Rô, đã được ghi vào văn kiện của Hội nghị San Francisco (1951) với đa số tán thành và không hề có bất kỳ phản ứng chống đối hay yêu sách của các quốc gia tham dự. Tham luận của Lưu Anh Rô còn trích dẫn thêm nhiều tài liệu lưu trữ “tuyệt mật” của Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có đoạn “Căn cứ theo các không ảnh do Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ chụp ngày 29/7/1960 và sau khi so sánh với nhiều thí liệu không ảnh của ta chụp ngày 5/3/1959, thiểm Bộ được biết Trung cộng đã thiết lập thêm một con đường xe hơi có thể chạy được xuyên từ Tây Nam tới Đông Bắc đảo ( đảo Phú Lâm – nơi Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp vào năm 1956) và đã làm thêm một khu công thự gồm 5 dãy nhà 3 căn”. Nhận ra mưu đồ chiếm đóng lâu dài này của nhà cầm quyền Trung Quốc, tài liệu lưu trữ cho biết, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không ngừng gia tăng bảo vệ, kiểm soát các đảo và vùng nước phụ cận đồng thời cực lực lên án hành động leo thang của Trung Quốc. Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ngày 7/9/1967 đã tái xác định vấn đề đặc quyền lãnh hải của mình trong vùng quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đoạn “Ranh giới của phần thềm lục địa tiếp cận với lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa thuộc pháp quyền và chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ấn định chiếu theo các quy ước và tiêu chuẩn Quốc tế và đã được công bố đầy đủ. Bởi vậy, chính phủ Việt Nam Cộng hòa coi là vô giá trị và vô hiệu lực mọi quyền đặc nhượng, do một quốc gia khác cấp giữ lấn vào phần thềm lục địa của Việt Nam Cộng hòa. Những công ty thụ hưởng quyền đặc nhượng ấy phải gánh chịu mọi trách nhiệm và mọi rủi ro nếu họ muốn tiến hành những công tác tìm kiếm và khai thác khoáng sản trên phần thềm lục địa của Việt Nam Cộng hòa mà không có sự cấp quyền hợp lệ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa”. Tài liệu lưu trữ của Việt Nam Cộng hòa hôm qua đã trở thành một trong những chứng cứ quan trọng để Việt Nam hôm nay sử dụng đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền đất nước. Đó là điều rất gần đây thôi nhiều người không thể hoặc chưa thể tin trở thành hiện thực. Thế nhưng đó đã là hiện thực.     
Câu chuyện thứ hai, ở Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2014 đã khởi động một chương trình xã hội tự phát với lời tâm tình của những người khởi xướng, thật nhẹ nhàng, như sau: “ Chắc chắn, ở đâu trên Tổ quốc này cũng còn rất nhiều sự hi sinh cần được nhìn nhận, những số phận cần được sẻ chia. Và Hoàng Sa đã được chọn như một nhịp cầu để nối các nghĩa cử ấy và mong trên nhịp cầu này sẽ bắt đầu những bước đi chung của người Việt muôn phương”. Sự mong muốn và niềm hi vọng của những người đang bắc thêm một nhịp cầu nối các số phận Việt Nam lại với nhau bước đầu đã thành hiện thực. Một phần trong số các tử sĩ, liệt sĩ của các trận chiến ở Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma – Trường Sa năm 1988 đã bắt đầu nhận được sự chăm sóc của cộng đồng người Việt bốn phương gửi về Nhịp cầu Hoàng Sa, tính tới nay số tiền tiếp nhận được tổng cộng là 1.707.965.042 đồng. Không câu hỏi “vì sao” nào gửi kèm theo mỗi sự đóng góp. Không “hòn đá” nào được ném vào chương trình này từ những người tử tế, ở bên này hay bên kia… 
Từ những việc làm với mong muốn góp phần nối liền các bến bờ chia cắt ấy, có thể nào không hi vọng rằng mọi lời nguyền, sớm hay muộn, đều có thể bước qua vì chính những điều lớn lao hơn mỗi cá nhân: tình người và tình tự dân tộc./.
Nguyễn Trương.

Jul 3, 2014

Quan hệ với Trung Quốc: mềm hay rắn thì đúng hơn?

Quan hệ với Trung Quốc: mềm hay rắn thì đúng hơn?
        
MEM NAN RAN BUONG
 
Kể từ ngày giàn khoan của TQ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của VN, có thể nói cách nghĩ của người dân trong việc thể hiện thái độ với Tàu Cộng đang ngày một khác xa so với cách nghĩ của giới quan chức.
Về phía các quan chức, mặc dù có vài vịở cấp cao phát biểu rất gay gắt vài lần, nhưng lắng kỹ lời lẽ của các vị lãnh đạo thì thấy đa số họ lên tiếng vì buộc phải lên tiếng. Và dù khẳng định lập trường bảo vệ chủ quyền, nhưng họ cũng luôn nhấn mạnh vào những biện pháp để giữ vững hòa bình hữu nghị. Họ khéo léo nói để dân chúng hiểu rằng chiến tranh là mất mát nhiều lắm, rằng hòa bình kiểu gì cũng tốt gấp vạn lần so với chiến tranh. Họ cố tìm cách cho dân hiểu rằng chỉở tầm của họ mới có thể sáng suốt tìm ra được giải pháp hợp lý để lèo lái vận mệnh dân tộc, rằng nếu hành động theo “lòng dân” thì hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc.
Về phía dân chúng, dù có đến bất kỳ nơi nào trên đất nước này thì cũng nghe đa số bà con thể hiện sự phẫn uất trước thái độ ngang ngược của Tàu Cộng. Đa số thể hiện thái độ chấp nhận mất mát nếu chiến tranh xảy ra.
Vậy phải chăng người dân đa số là nông cạn? Hay là họ hiếu chiến? Hay không có gì để mất?
Xưa nay, khi một con người hay một cộng đồng bị ăn hiếp, bao giờ cũng có hai quan điểm về cách phản ứng. Một là cứng: kiên quyết chống lại bằng hành động, hoặc ra những tuyên bố dứt khoát để cảnh cáo kẻ ăn hiếp, nhằm ngăn chặn những hành động ngang ngược tiếp theo. Hai là mềm. Nhưng mềm thì có hai kiểu.
Kiểu thứ nhất là làm ngơ, không thèm để tâm đến sự thóa mạ của kẻ khác khi nó không thể gây ra được những hậu quả tồi tệ. Đức Phật đã xử sự như vậy. Ngài không bận lòng chút nào đến những lời nhục mạ đối với Ngài. Hàn Tín thời Tiền Hán, vì cả sự nghiệp còn ở phía trước, đã chấp nhận chui qua háng một gã côn đồ để khỏi phí cuộc đời một danh tướng hạng nhất thiên hạ vào việc tranh chấp vặt với kẻ tiểu nhân.
Kiểu thứ hai là quỳ gối, quỵ lụy, bợ đỡ, vì hèn nhát hoặc vì quyền lợi. Đôi khi, biết rằng nếu “mềm” thì kẻ kia sẽ lấn tới mãi, đến khi kẻ “mềm” mất sạch, mà vẫn tiếp tục “mềm”.
Tuy nhiên, kẻ quỳ gối bao giờ cũng tự biện minh là mình giống Đức Phật hay giống như danh tướng cỡ Hàn Tín. Nếu việc như vậy chỉ liên quan đến kẻ quỳ gối thì mặc xác họ. Nhưng nếu sự việc liên quan đến cộng đồng thì đó là chuyện khác.
Cho dù cứng hay mềm, dù là mềm kiểu thứ nhất hay kiểu thứ hai, thì bao giờ người ta cũng cho rằng mình đúng. Người “cứng” theo kiểu liều lĩnh, hung cùn, vẫn cho mình là bậc trượng phu. Còn kẻ “mềm” theo kiểu quỵ lụy, hèn mạt, vẫn cho mình là người thông thái, biết hy sinh cái nhỏ vì “đại cục”.
Vậy trong trường hợp Tàu Cộng liên tục gây hấn hai tháng nay (và nhiều tháng, nhiều năm tới) thì thái độ nào đúng hơn, vàđúng đến mức nào?
Lý sự chỗ này rõ ràng gần như vôích. Sẽ chẳng ai chịu ai. Mọi lý sự nghe ra đều hợp lý.
Tôi không muốn lý sự. Đặc biệt khi những lý lẽ của tôi chỉ là lý lẽ của kẻ vô danh tiểu tốt. Tôi chỉ thích đối chứng. Trong trường hợp này là đối chứng với thái độ và giải pháp của hai quốc gia láng giềng khác của TQ: Nhật và Philippines. Nếu ai đó nói rằng cứng rắn hơn cách của lãnh đạo VN hiện nay ắt sẽ dẫn đến chiến tranh với Tàu Cộng thì người đó hãy xem lại thái độ của chính phủ hai nước này.
Trong vấn đề quần đảo Senkaku và Hoàng Hải, Nhật Bản kiên quyết không nhượng bộ TQ. Nhật còn tiến hành quốc hữu hóa Senkaku để ra chỉ dấu cho TQ thấy rằng họ không nên đụng đến quần đảo này. Nhật cũng kiên quyết bác bỏ việc TQ đơn phương thiết lập vùng nhận dạng phòng không. Trong việc nâng cao tiềm lực quốc phòng, thủ tướng Shinzo Abe nói không úp mở về mục đích đối phó và tỏ ra sẵn sàng đối đầu quân sự với TQ. Trong vấn đề biển Đông, Nhật thể hiện rõ ràng quan điểm ủng hộ tích cực tất cả các nước có tranh chấp lãnh hải với TQ. Nhật cũng đã điều tàu chiến đến hỗ trợ Philippines, và sẽ cung cấp nhiều tàu tuần duyên cho nước này. Ông Abe còn sang tận châu Âu để kêu gọi G-7 có những động thái kiên quyết phản đối sự gây hấn của TQ trên biển Đông.
Một thái độ tương tự cũng được chính phủ Philippines thể hiện trước sự ngông nghênh của TQ. Đặc biệt, Philippines đã kiện TQ ra tòa trọng tài LHQ về những yêu sách phi lý và những hành động của TQ cản trở hoạt động hàng hải của Philippines.  
Và kết quả là thế nào? Nhật Bản và Philippines đã bị TQ “trừng phạt” chăng? Không, ngược lại. Chính thái độ sẵn sàng đối đầu của chính phủ hai nước này đã làm TQ phải rụt vòi, chỉ còn lu loa như mấy mụ đàn bà lắm mồm.
TQ hiện đang hướng toàn bộ cách hành xử lưu manh của nó vào VN. Lý do chính vì cái “mềm” vô nguyên tắc của VN.
Nhìn lại mấy chục năm trước, chính quyền họ Mao ở Bắc Kinh đã từng rất muốn “giải phóng” Đài Loan. Nhưng chỉ sau vài vụ đụng độở vài đảo nhỏ trong vùng, Bắc Kinh đã phải im lặng bỏ cuộc, không còn dám nói đến việc chiếm lại Đài Loan bằng vũ lực nữa.
Rõ ràng, chính quyền của cái quốc gia đông dân nhất thế giới này thuộc loại “mềm nắn, rắn buông”, nên “mềm” với bọn đó sẽ chỉ có hại.
Tất nhiên, ai đó có thể phản bác. Một là Nhật và Philippines có Mỹ “chống lưng”, còn VN thì không có cường quốc nào cỡ như Mỹ đứng sau. Hai là VN có cái khó vì là “đồng chí” với giặc Tàu. Cả hai cái lý đó đều đúng. Nhưng, thử hỏi: Ai đã đẩy VN đến tình cảnh như vậy? Các thế lực thù địch chăng?
Rõ ràng, nếu VN “rắn” từ trước thì TQ đã không dám gây hấn như trong thời gian qua. Nhưng ngay cả bây giờ, một thái độ kiên quyết và tỏ ra sẵn sàng chấp nhận những đổ vỡ trong quan hệ vẫn sẽ làm TQ phải chùn tay. Bọn họ vẫn đe nẹt được VN chỉ vì họ thấy nhà chức trách VN vẫn tỏ ra cần đến họ.
 
NGUYỄN TRẦN SÂM

World Cup 2014: Cuộc chơi bạc tỉ

World Cup 2014: Cuộc chơi bạc tỉ

wc2014logo

Giấc mơ tốn kém
Brazil đã mãn nguyện với giấc mơ từ lâu muốn đưa giải bóng đá thế giới World Cup trở lại Nam Mỹ sau 36 năm vắng bóng. Bắt đầu từ ngày 12/6, sự kiện lớn nhất của làng bóng đá thế giới diễn ra tại Brazil trong 32 ngày. Người dân ở đất nước xem bóng đá như tôn giáo này mong muốn đội nhà vô địch ngay tại quê hương và lập kỷ lục 6 lần giành cúp vàng. Trong khi đó, chính phủ hy vọng World Cup 2014 sẽ là động lực mang lại thay đổi lớn lao cho nền kinh tế đang lụn bại của nước nhà.
Chính phủ đã hứa hẹn việc tổ chức World Cup sẽ có những lợi ích kinh tế lớn lao để trấn an dân chúng ngày càng tỏ ra nghi ngờ. Nhưng tâm lý bất mãn ở Brazil về chất lượng của hệ thống giao thông cộng cộng, y tế, giáo dục và an ninh đã tăng dần kể từ khi các cuộc biểu tình bùng nổ hồi năm ngoái trong thời gian tổ chức giải Cúp Liên đoàn (giải đấu được xem là để hâm nóng cho World Cup năm nay).
Năm ngoái, Aldo Rebelo, bộ trưởng thể thao Brazil, hào hứng liệt kê những lợi ích kỳ vọng từ World Cup, trong đó có 28 tỉ real (12 tỉ đô-la Mỹ, 1 real = 0,44 đô-la Mỹ) đầu tư vào giao thông đô thị, cảng, sân bay, sân vận động và cơ sở hạ tầng du lịch. Nhưng ông thừa nhận rằng nhiều công trình cơ sở hạ tầng công cộng, ngoài các sân vận động, chẳng hạn như nâng cấp sân bay, đã được bao gồm trong kế hoạch cơ sở hạ tầng chung của chính phủ, gọi là chương trình đẩy nhanh tăng trưởng.
Vinicius Lages, bộ trưởng du lịch Brazil, nói với AFP: “World Cup không phải là thần dược kinh tế, mà là chất xúc tác cho sự phát triển của Brazil. Đó là một nhân tố chủ chốt khiến Brazil rốt cuộc đã nâng cấp cơ sở hạ tầng của mình.” Theo ông tiên đoán, chỉ riêng trong năm 2014 World Cup sẽ tăng thêm khoảng 13,6 tỉ đô-la Mỹ cho nền kinh tế Brazil (hiện lớn thứ bảy thế giới).
Không chỉ có vậy. Một báo cáo của Ernst & Young Terco về các tác động xã hội và kinh tế của World Cup 2014 kết luận rằng giải đấu này “sẽ tạo ra 3,63 triệu việc làm/năm và lợi tức 63,48 tỉ real (28,23 tỉ đô-la Mỹ) cho dân chúng trong giai đoạn 2010-2014, ngoài khoản thu thuế 18,13 tỉ real.”
Ernst & Young dự báo tác động đối với sản lượng hàng hóa và dịch vụ quốc dân ở mức 112,79 tỉ real, còn các ngành hưởng lợi nhiều nhất từ sự kiện này (được định nghĩa là các hoạt động kinh tế với sản lượng tăng đáng kể) là xây dựng công chánh, ẩm thực, dịch vụ kinh doanh, tiện ích công cộng, dịch vụ thông tin, và du lịch và khách sạn.
Tất cả những dự đoán đó nghe rất hấp dẫn, nhưng cũng có nhiều báo cáo khác trái ngược nhau về lợi ích lâu dài thực sự của việc tổ chức World Cup. Một báo cáo của hãng xếp hạng tín dụng Moody’s về tác động của World Cup đối với những ngành khác nhau đã kết luận rằng World Cup sẽ giúp doanh thu tăng ngắn hạn nhưng các mức gia tăng này không đủ để ảnh hưởng đến lợi nhuận, và những xáo trộn về giao thông, tình trạng đông đúc và số ngày làm việc bị mất sẽ gây thiệt hại cho kinh doanh.
Dù đa số người dân Brazil cảm nhận rằng World Cup khiến đất nước tốn kém rất nhiều, theo báo cáo của Moody’s, giải đấu này sẽ có tác động không đáng kể cho nền kinh tế có giá trị 2,2 ngàn tỉ đô-la Mỹ của Brazil. Barbara Mattos, chuyên viên phân tích cao cấp tại Sao Paulo của Moody’s, nhận xét rằng nền kinh tế của Brazil rất lớn nên tác động sẽ không quá lớn, do World Cup chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và đầu tư chỉ giới hạn ở một số thành phố hay tiểu bang. Giải đấu này sẽ chỉ tăng thêm 0,4% GDP cho Brazil trong thời gian 10 năm, và mức chi tiêu cho cơ sở hạ tầng dự kiến chỉ chiếm khoảng 0,7% trong tổng mức đầu tư theo kế hoạch của nước này từ năm 2010 đến 2014.
Năm 2007, khi FIFA (Liên đoàn Bóng đá Thế giới) trao cho Brazil quyền đăng cai World Cup 2014, nền kinh tế nước này tăng trưởng 6,1%. Hiện nay, giới phân tích kinh tế cảnh báo rằng nền kinh tế Brazil đang ở bờ vực suy thoái. Theo một khảo sát hàng tuần của ngân hàng trung ương, giới kinh tế dự báo GGP chỉ tăng trưởng 1,68% năm nay, và 2% trong năm 2015.
Brazil rất có thể gặp phải “hiệu ứng World Cup”, theo định nghĩa của trang IBTimes.com là hiện tượng các nước chủ nhà bị thiệt hại kinh tế nhiều hơn do đăng cai giải đấu, như trường hợp của Nam Phi năm 2010. Bốn năm sau, các lợi ích của việc đăng cai World Cup vẫn chưa thấy đâu. Một bài báo của trang IBTimes.com dẫn lời của Dennis Coates, giáo sư Đại học Maryland, nhận xét rằng ngay cả World Cup 1994 ở Mỹ (được xem là một trong những giải thành công và có biến chuyển lớn nhất) tính trung bình cũng khiến mỗi thành phố đăng cai bị giảm lợi tức 712 triệu đô-la Mỹ so với dự đoán.
Hồi tháng 11 năm ngoái, Vinicius Lummertz, bí thư quốc gia về chính sách công của Brazil, lạc quan nói với báo The Rio Times rằng ngành du lịch Brazil sẽ hưởng lợi lớn từ World Cup. Bộ Du lịch tiên đoán rằng du khách nội địa và ngoại quốc sẽ chi tiêu 25 tỉ real trong thời gian diễn ra giải đấu, với ước tính có 600.000 du khách ngoại quốc và 3 triệu du khách nội địa. Tính trung bình mỗi du khách ngoại quốc dự kiến sẽ dự xem bốn trận đấu và chi tiêu khoảng 2.488 đô-la Mỹ trong thời gian lưu lại Brazil. Lợi ích kinh tế cho Brazil dựa trên số du khách đổ v ước tính sẽ là 3,03 tỉ đô-la Mỹ, chưa kể các giao dịch tài chính gián tiếp của các du khách này.
Những khoản chi tiêu khổng lồ của chính phủ Brazil cho cơ sở hạ tầng trong những năm gần đây để chuẩn bị cho World Cup có thể là nhằm để tối đa hóa doanh thu mà đất nước này có thể đạt được qua giải đấu này, và cũng có thể hướng về tương lai nữa. (Brazil sẽ tổ chức Thế vận hội Mùa hè vào năm 2016.)
Nghiên cứu nói trên của Ernst & Young đề cập đến các nhu cầu đầu tư như vậy để có thể biến lợi tức từ du lịch thành hiện thực. “Một khi các biện pháp cần để giúp đất nước khai thác các cơ hội do World Cup mang lại được hoàn tất, giải đấu này có thể khiến lượng du khách quốc tế đến Brazil tăng đến 79% trong năm 2014, với khả năng còn tác động cao hơn trong những năm về sau. Trong giai đoạn 2010-2014, con số đó sẽ có thể tăng thêm 2,98 triệu du khách nữa.” Lượng du khách đổ vào nhờ tác động trực tiếp và gián tiếp của World Cup dự kiến sẽ tăng thêm lợi tức 5,94 triệu real cho các công ty Brazil.
Tuy nhiên, trước khi Brazil có thể mở tiệc ăn mừng các lợi ích kinh tế sắp có, một vài diễn biến cập nhật về ngành du lịch có thể làm giảm bớt tâm lý hứng khởi đó. Theo ký giả Claire Rive của tờ The Rio Times, ngành du lịch ở Brazil đã phải điều chỉnh các ước tính bị thổi phồng của họ về lượng du khách dự kiến sẽ đổ vào, và do vậy phải giảm giá đáng kể cho giá vé máy bay nội địa và quốc tế, và tiền khách sạn trong thời gian diễn ra giải đấu.
Tham nhũng và lãng phí
Tổ chức World Cup là tiền triệu, tiền tỉ nên dễ nảy sinh cơ hội kiếm tiền kiểu ăn xổi, nhất là ở một nước như Brazil. Christopher Gaffney, giáo sư Đại học Liên bang ở Rio de Janeiro, cho rằng có sự cấu kết giữa giới chóp bu cầm quyền và giới chóp bu kinh doanh ở Brazil để lũng đoạn có lợi cho họ.
Lâu nay đã có nhiều nghi ngờ về các vụ tham nhũng và biển thủ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Lấy ví dụ trường hợp Sân vận động Mane Garrincha ở Brasilia, hiện đã là sân bóng đá tốn kém thứ nhì thế giới (sau sân Wembley ở Anh).
Hồi tháng 5 vừa rồi, hãng tin Associated Press có một bài phóng sự cáo buộc tập đoàn xây dựng Andrade Gutierrez và hãng kỹ thuật công chánh Via Engenharia đã thành lập một liên minh xây dựng, và buộc chính phủ trả 1,5 triệu đô-la Mỹ cho việc vận chuyển các khán đài tiền chế cho sân vận động ở Brasilia, trong khi mức phí ban đầu dự kiến chỉ là 4.700 đô-la Mỹ.
Các chuyên viên kiểm toán phát hiện rằng các tập quán lãng phí hoặc hoạch định kém đã khiến chi phí tăng thêm 28 triệu đô-la Mỹ, trong khi 16 triệu đô-la Mỹ bị tổn thất khi thật khó hiểu là chính quyền Brasilia không áp dụng được mức phạt đối với tập đoàn Andrade Gutierrez vì trễ hạn 5 tháng cho việc hoàn thành phần chính của sân vận động này.
Theo Al Jazeera, chính tập đoàn này đã có các khoản đóng góp chính trị tổng cộng 37,1 triệu đô-la Mỹ sau khi tên các thành phố đăng cai trận đấu được khẳng định và sau khi tập đoàn này được giao các hợp đồng trị giá tổng cộng gần một phần tư trong tổng kinh phí tổ chức World Cup, bốn năm sau khi tập đoàn này đóng góp chỉ có 73.180 đô-la Mỹ trong các cuộc bầu cử cấp đô thị, như vậy là tăng 500 lần. Ngoài ra, các chuyên viên kiểm toán phát hiện 275 triệu đô-la Mỹ về mức tính giá bị cáo buộc là quá cao chỉ với ba phần tư trong tổng số kinh phí 900 triệu đô-la Mỹ của Sân vận động Mane Garrincha.
Một quan chức chính phủ cho rằng tham nhũng chỉ là một phần nguyên nhân khiến các sân vận động phục vụ World Cup có phí tổn cao hơn dự toán. Con số ước tính mới nhất cho 12 sân xây mới và nâng cấp cho thấy chi phí khoảng 8 tỉ real (3,6 tỉ đô-la Mỹ), cao hơn 2,7 tỉ real so với con số ước tính chi tiết đầu tiên công bố năm 2010, và gần bốn lần so với con số dự toán xây dựng sân vận động mà Brazil trình lên FIFA hồi năm 2007 trong hồ sơ xin đăng cai.
Văn phòng tổng kiểm toán, tòa án tài khoản quốc gia (TCU) và một nhóm công tố viên đã điều tra các công trình World Cup (có tổng kinh phí 11 tỉ đô-la Mỹ). Theo TCU, qua điều tra các hợp đồng và phát hiện nhiều trường hợp đội giá và tính phí quá cao, họ đã giúp tiết kiệm được khoảng 700 triệu real
Sergio Nogueira Seabra, bí thư về minh bạch và chống tham nhũng của Văn phòng tổng kiểm toán Brazil, cho biết văn phòng của ông đã điều tra các hợp đồng thi công trị giá 2 tỉ real cho các sân vận động World Cup ở Manaus, Cuiaba và Rio de Janeiro (nơi diễn ra trận chung kết vào ngày 13/7). Sau khi phân tích, họ đã tiết kiệm được khoảng 200 triệu real. Nhóm của Seabra không có thẩm quyền để xem xét những nơi khác. Ông nói không phải tất cả các ví dụ tính giá quá cao đều do tham nhũng. Hồi tháng 11 năm ngoái, tạp chí Forbes ước tính phí tổn của tham nhũng ở Brazil trong năm 2013 có thể lên đến tổng cộng 53 tỉ đô-la Mỹ.
Gần như tất cả các sân vận động liên quan đến World Cup đều bị chậm tiến độ, khiến chi phí tăng lên khi thời hạn sắp đến. Một số sân, trong đó có sân Sao Paulo nơi tổ chức trận khai mạc giữa Brazil và Croatia vào ngày 12/6, vẫn còn đang xây dựng dang dở vào cuối tháng 5.
Vinicius Panetto, một công tố viên ở Rio de Janeiro điều tra công trình sân vận động Maracana ở Rio, phát hiện rằng theo dự toán ban đầu, mỗi bàn nhựa để thay tã trong sân vận động này có giá 10.800 real (4.876 đô-la Mỹ). Một mức giảm 92% chi phí đó, cộng với một mức giảm khác về gạch men lót trong nhà vệ sinh, đã giảm được 7 triệu real trong dự toán. Con số 495 cổng sẽ dùng tại sân này được giảm xuống còn 5 cổng, tiết kiệm thêm 12 triệu real nữa.
Con gà đẻ trứng vàng cho FIFA
Trong khi lợi ích mà giải bóng đá thế giới mang lại cho Brazil còn chưa rõ ràng, chắc chắn FIFA sẽ thắng lớn như ở các kỳ trước. World Cup 2014 sẽ mang lại tổng doanh thu 4 tỉ đô-la Mỹ cho FIFA, cao hơn 66% so với giải lần trước ở Nam Phi năm 2010. Phần lớn là nhờ tiền bán bản quyền truyền hình và tiếp thị quảng cáo. World Cup mang lại nhiều doanh thu hơn bất cứ giải thể thao nào, ngoại trừ Thế vận hội (nếu dựa trên doanh thu cho một ngày thi đấu, trận chung kết Super Bowl của NFL là vô đối). Lợi nhuận của FIFA cho World Cup 2014 là 2 tỉ đô-la Mỹ.
Gần như toàn bộ doanh thu của FIFA xuất phát từ bản quyền truyền hình (1,7 tỉ) và bản quyền tiếp thị quảng cáo (1,35 tỉ) từ các đối tác doanh nghiệp như Adidas, Emirates, Sony, Visa, Hyundai và Coca-Cola. Các công ty tên tuổi thích vung tiền chi cho World Cup vì bóng đá có lượng khán giả hâm mộ cuồng nhiệt trên toàn cầu.
Theo nghiên cứu của FIFA, tại giải World Cup 2010 ở Nam Phi, 909 triệu khán giả truyền hình xem ít nhất một phút của trận chung kết tại nhà. Khoảng 619,7 triệu người cũng xem ít nhất 20 phút liên tiếp khi Tây Ban Nha thắng Hà Lan 1-0 trong hiệp đấu bù giờ ở Johannesburg. Hơn 3,2 tỉ người xem tối thiểu 1 phút truyền hình trực tiếp giải năm 2010. Mức xếp hạng trung bình chính thức là 188,4 triệu lượt người xem cho mỗi trận đấu.
World Cup 2010 thu hút số khán giả Mỹ nhiều nhất trong lịch sử giải đấu này. ESPN công bố rằng các chương trình phát hình trận đấu đạt mức xếp hạng trung bình 2,1 (2,29 triệu gia đình và 3,26 triệu người xem), tăng 31% so với năm 2006. Trận chung kết giữa Hà Lan và Tây Ban Nha là trận bóng đá của giải World Cup nam giới có số lượt người xem đông nhất (15,6 triệu).
Ngay cả ở Mỹ, giá trị nội dung thể thao của World Cup cũng cao hơn. Hồi tháng rồi, Fox Sports giành được bản quyền truyền hình tiếng Anh ở Mỹ cho World Cup 2018 (ở Nga) và World Cup 2022 (ở Qatar), đánh bại các đối thủ ESPN và NBC. ESPN mua được bản quyền truyền hình cho các giải năm 2010 và 2014 với giá 100 triệu đô-la Mỹ. Tuy con số chính thức về hợp đồng truyền hình mới chưa được công bố, ký giả John Ourand của tạp chí Sports Business Journal được nguồn tin cho biết Fox có thể đã trả từ 400 đến 500 triệu đô-la Mỹ. Con số này khá hợp lý vì Univision đã trả 425 triệu đô-la Mỹ cho bản quyền truyền hình tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ trong hai kỳ World Cup vừa rồi.
Tuy nhiên, kinh phí cho World Cup không hề rẻ. Với giải ở Brazil, FIFA sẽ chi trả tổng cộng 576 triệu đô-la Mỹ cho các liên đoàn thành viên tham gia, các câu lạc bộ có cầu thủ tham gia và cho chương trình bảo vệ câu lạc bộ, cao hơn 37% so với World Cup ở Nam Phi cách đây bốn năm. Phần lớn nhất trong đó sẽ là mức tiền thưởng kỷ lục, cao hơn 75% so với giải năm 2010. Đội vô địch World Cup 2014 sẽ được thưởng 35 triệu đô-la Mỹ, hạng nhì 25 triệu, hạng ba 22 triệu, hạng tư 20 triệu, 4 đội bị loại ở tứ kết sẽ được nhận 14 triệu/đội, 8 đội bị loại ở vòng 16 sẽ được nhận 9 triệu/đội, 16 đội bị loại ở vòng đấu bảng sẽ được nhận 8 triệu/đội. Xét đến tổng số đội, cầu thủ và thời gian diễn ra World Cup, con số cho mỗi cầu thủ mỗi ngày sẽ là 2.800 đô-la Mỹ ở Brazil.
Hoạt động kinh doanh World Cup đã tăng trưởng mạnh kể từ cuối thập niên 1990 nhờ đà tăng mạnh về bản quyền truyền hình. Bản quyền truyền hình bên ngoài nước Mỹ cho các giải 2002 và 2006 được bán với giá 2 tỉ đô-la Mỹ, tăng gấp 6 lần so với con số 310 triệu đô-la Mỹ mà Liên hiệp Truyền hình Châu Âu (đại diện cho lợi ích và sức mạnh tài chính của các đài truyền hình Châu Âu) trả cho ba giải đấu tổ chức trong thập niên 1990. Kể từ năm 1998, tổng doanh thu World Cup cho FIFA đã tăng 11 lần.
Thành công tài chính của World Cup có lợi cho sự phát triển của môn bóng đá. Ngân sách của FIFA cho các năm 2015-2018 là 4,9 tỉ đô-la Mỹ, trong đó 2,15 tỉ được dành cho World Cup 2018 ở Nga. Tính chung, 78% (3,8 tỉ đô-la Mỹ) trong số 4,9 tỉ này sẽ được đầu tư trực tiếp vào bóng đá (các dự án phát triển, các giải đấu, và hoạt động quản trị).
Bất luận World Cup 2014 có tác động ra sao đến nước chủ nhà, giải đấu này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của cả thế giới trong một tháng sắp tới, nhờ đó FIFA tạm tránh xa những chỉ trích và tố cáo gần đây về nạn tham nhũng, nhất là trong việc trao quyền đăng cai World Cup 2022 cho Qatar. Những cáo buộc về việc Qatar hối lộ các quan chức FIFA trong thời gian vận động đăng cai nghiêm trọng đến nỗi đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi tước quyền đăng cai của Qatar, và tổ chức chọn lại nước chủ nhà.
Số liệu kinh doanh qua các kỳ World Cup gần đây (Nguồn: Forbes.com)
Năm2010200620021998
Nước chủ nhàNam PhiĐứcHàn Quốc & NhậtPháp
Đội vô địchTây Ban NhaÝBrazilPháp
Tổng doanh thu2,4 tỉ đô-la Mỹ3,2 tỉ đô-la Mỹ2,5 tỉ đô-la Mỹ365 triệu đô-la Mỹ
Doanh thu truyền hình1,1 tỉ đô-la Mỹ1,7 tỉ đô-la Mỹ1,6 tỉ đô-la Mỹ120 triệu đô-la Mỹ
Doanh thu tiếp thị, quảng cáo1,1 tỉ đô-la Mỹ785 triệu đô-la Mỹ810 triệu đô-la Mỹ245 triệu đô-la Mỹ

 Khương An,
 Thời Mới Canada, ngày 11/6/2014.

Tại sao Washington phải tập trung vào châu Á

Những hứa hẹn Viễn Đông: Tại sao Washington phải tập trung vào châu Á

Tháng 7 3, 2014
Kurt M. Campbell và Ely Ratner
Trần Ngọc Cư dịch
 
 
Hoa Kỳ đang bước vào giai đoạn đầu của một đề án quốc gia quan trọng: tái định hướng chính sách đối ngoại của mình để dồn thêm quan tâm và nguồn lực vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Việc trình bày lại một cách có hệ thống các ưu tiên của Mỹ đang diễn ra trong một giai đoạn mà Mỹ khẩn thiết đánh giá lại các vấn đề chiến lược, sau hơn một thập kỷ lún sâu vào khu vực Nam Á và Trung Đông. Việc này đặt cơ sở trên quan niệm cho rằng lịch sử của thế kỷ 21 phần lớn sẽ được viết tại châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực sẵn sàng đón chào sự lãnh đạo của Mỹ và sẽ tưởng thưởng cho sự tham gia của Mỹ bằng một lợi nhuận tích cực trên các đầu tư chính trị, kinh tế, và quân sự.
Do đó, chính quyền Obama đang huy động toàn diện một loạt các nỗ lực ngoại giao, kinh tế, và an ninh mệnh danh là “xoay trục” hay “tái quân bình”, hướng về châu Á. Chính sách này xây dựng trên nền móng của hơn một thế kỷ Hoa Kỳ dính líu vào khu vực này, kể cả những biện pháp quan trọng mà các chính quyền Clinton và George W. Bush đã thực hiện; như Tổng thống Barack Obama đã nhận xét đúng đắn: trên thực tế cũng như trong các tuyên bố, Hoa Kỳ đã là một “cường quốc Thái Bình Dương.” Nhưng chiến lược tái quân bình lực lượng mới thật sự nâng địa vị của châu Á lên một tầm có ý nghĩa trong chính sách đối ngoại Mỹ.
Những nghi vấn về mục tiêu và phạm vi ảnh hưởng của đường lối mới này đã xuất hiện ngay sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton đưa ra những điều mà tới nay vẫn còn là tuyên bố rõ ràng nhất về chiến lược này, và bà là người đầu tiên đã dùng từ “xoay trục” trong một bài viết đăng trên tạp chí Foreign Policy năm 2011. Gần ba năm sau, chính quyền Obama vẫn còn đối diện với cái thách đố dai dẳng trong việc giải thích khái niệm này và trong việc thể hiện hứa hẹn của nó. Nhưng bất chấp những tra hỏi gắt gao và những vấp váp ngắn hạn mà chính sách này gặp phải, ít ai hoài nghi về một chuyển biến lớn đang diễn ra. Và dù Washington có muốn hay không, châu Á chắc chắn sẽ thu hút quan tâm và nguồn lực từ Hoa Kỳ, do sự phồn thịnh và ảnh hưởng của khu vực ngày một gia tăng – và do những thách thức to lớn mà khu vực này đang đặt ra. Do đó, vấn đề cần nêu ra ở đây không phải là liệu Hoa Kỳ sẽ quan tâm hơn về châu Á hay không, mà là liệu Hoa Kỳ có đủ sức làm việc này với quyết tâm, nguồn lực, và trí tuệ cần thiết hay không.
 
ĐI ĐÔNG RỒI XUÔI NAM
Khu vực châu Á-Thái Bình Dương có một sức thu hút không thể cưỡng lại nổi. Khu vực này là quê hương của hơn một nửa dân số thế giới và có một nước dân chủ đông dân nhất thế giới (Ấn Độ), nền kinh tế thứ nhì và nền kinh tế thứ ba (Trung Quốc và Nhật Bản), quốc gia có đa số Hồi giáo đông đảo nhất (Indonesia), và bảy trong mười quân đội lớn nhất. Ngân hàng Phát triển châu Á tiên đoán rằng trước thời điểm giữa thế kỷ này, khu vực này sẽ cho ra một nửa sản lượng kinh tế thế giới và gồm có bốn trong mười nền kinh tế lớn nhất của thế giới (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và Nhật Bản).
Nhưng chính con đường tiến hóa của châu Á, chứ không chỉ mức phát triển chóng mặt của nó, mới làm cho khu vực này trở nên quan trọng đến thế. Theo Freedom House, trong 5 năm qua, châu Á-Thái Bình Dương là khu vực duy nhất trên thế giới đạt tiến độ đều đặn trong việc cải thiện các quyền chính trị và quyền tự do dân sự. Và bất chấp các nghi vấn về khả năng duy trì độ bền vững của mức tăng trưởng kinh tế nhanh chóng tại những thị trường mới nổi [emerging markets], các quốc gia châu Á vẫn tiêu biểu cho một số cơ hội hứa hẹn nhất trong một nền kinh tế toàn cầu sẽ đình đốn và bất ổn nếu thiếu những thị trường này. Đồng thời, châu Á đang phấn đấu trước những nguyên nhân gây bất ổn kinh niên, do các hành động khiêu khích cao độ của Bắc Hàn, do việc gia tăng ngân sách quốc phòng diễn ra khắp khu vực, do các tranh chấp biển đảo gây nhiều lo ngại, khuấy động các quan hệ quốc tế ở biển Hoa Đông và biển Hoa Nam [Biển Đông], và do các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như thiên tai, nạn buôn người, và buôn bán ma túy.
Hoa Kỳ có một lợi ích không thể chối cãi trên con đường mà châu Á sẽ đi trong những năm sắp tới. Thị trường này là điểm đến có ưu tiên cao nhất đối với hàng xuất khẩu Mỹ, vượt quá châu Âu hơn 50 phần trăm, theo Phòng Thống kê Hoa Kỳ. Cả vốn trực tiếp đầu tư của Hoa Kỳ tại châu Á lẫn vốn trực tiếp đầu tư của châu Á tại Hoa Kỳ đã tăng gần gấp đôi trong thập kỷ qua, với Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, và Nam Hàn là bốn trong mười nước có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh nhất tại Hoa Kỳ, theo Phòng Phân tích Kinh tế Hoa Kỳ. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có năm đồng minh với hiệp ước phòng thủ trong khu vực (Australia, Nhật Bản, Philippines, Nam Hàn, và Thái Lan), cũng như các đối tác quan trọng về mặt chiến lược như Brunei, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, New Zealand, Singapore, và Đài Loan, cùng với các quan hệ đang triển khai với Myanmar (còn được gọi Miến Điện). Các căn cứ quan trọng của Hoa Kỳ tại Nhật Bản và Nam Hàn giữ vai trò chủ yếu cho khả năng phóng chiếu quyền lực của Washington tại châu Á và các khu vực lân cận.
Các liên minh quân sự của Hoa Kỳ đã tăng cường an ninh khu vực này qua nhiều thập kỷ, và một trong những mục đích chính của việc xoay trục chiến lược [the pivot] là làm sâu sắc thêm các mối quan hệ đó. Trong những năm gần đây, Washington đã khuyến khích các quốc gia đối tác của mình tại châu Á tìm cách ngăn ngừa xung đột giữa những cường quốc chính, duy trì sự thông thương trên các hải lộ, chống lại chủ nghĩa cực đoan, và đối phó các đe dọa an ninh phi truyền thống. Nhật Bản và Nam Hàn đã đủ tự tin để nhận lãnh những vai trò ngày càng nổi bật trong các hoạt động quân sự hỗn hợp với Hoa Kỳ, và các lực lượng Mỹ đang làm việc với Australia để phát triển các khả năng chiến đấu thủy lục [amphibious capabilities] của mình và với Philippines để tăng cường lực lượng hải giám của nước này. Kết quả sau cùng là những liên minh hùng mạnh hơn và một khu vực an ninh hơn.
Việc này không hề gợi ý về một nỗ lực bao vây ngăn chặn hay làm suy yếu Trung Quốc. Trái lại, phát triển một quan hệ vững vàng hơn và hiệu quả hơn với Bắc Kinh là một mục tiêu chính của chiến lược tái quân bình lực lượng. Không tìm cách bao vây ngăn ngặn Trung Quốc, trong nhiều năm qua Hoa Kỳ đã tìm cách xây dựng một mối quan hệ song phương chín chắn hơn thông qua các cuộc họp thường xuyên ở các cấp cao nhất chưa hề có trước đây về nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến các bộ ngành song hành của hai nước. Thậm chí các quan hệ giữa hai quân đội [military-to-military relations] đã trở lại bình thường, lắm lúc đòi hỏi Lầu Năm Góc phải ráng sức đáp ứng các mức độ sinh hoạt do Bắc Kinh đề xuất.
 
MỘT CHIẾN LƯỢC XOAY TRỤC HƯỚNG VỀ – VÀ NGAY TRONG – CHÂU Á
Chiến lược tái quân bình lực lượng còn đòi hỏi Hoa Kỳ phải tham gia tích cực vào các định chế đa phương của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Dưới chính quyền Obama, Hoa Kỳ đã trở thành thành viên của Thượng đỉnh Đông Á, cuộc họp chính thức hàng năm của nguyên thủ các quốc gia trong khu vực; ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác tại Đông Nam Á, điều này cho thấy cam kết của Mỹ đối với ASEAN sẽ được tăng cường; và cử một đại sứ thường trực tại trụ sở ASEAN ở Jakarta. Mặc dù những định chế trùng lấp lên nhau này có thể gây ra nhiều bức xúc, do tiến độ chậm chạp và các đòi hỏi về đồng thuận của chúng, nhưng chúng có thể thúc đẩy hợp tác khu vực và giúp xây dựng một hệ thống luật lệ và cơ chế để đối phó những thách thức phức tạp xuyên quốc gia. Vào tháng Sáu 2013, chẳng hạn, ASEAN đã đăng cai tổ chức cuộc diễn tập trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai lần đầu tiên, có hơn 3.000 nhân viên từ 18 quốc gia tham dự.
Đồng thời, Mỹ đang đáp lại một thực tế mới mẻ là, khu vực châu Á-Thái Bình Dương càng ngày càng trở thành đầu máy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Chính quyền Obama đã đẩy mạnh các lợi ích kinh tế của Mỹ bằng cách thực thi Hiệp ước Tự do Mậu dịch Mỹ-Hàn năm 2012 và đang thúc đẩy mạnh mẽ để hoàn tất các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương [TTP], một hiệp ước thương mại tự do giữa 12 nước. Một số nước tham dự các cuộc đàm phán TPP hiện là những thị trường sinh động tại Đông Nam Á, như Malaysia và Singapore, vốn phản ánh tầm quan trọng địa chiến lược đang gia tăng của tiểu khu vực [subregion] này. Thật vậy, chiến lược xoay trục chiến lược của Mỹ hướng về châu Á đã được phụ họa bởi một hành động xoay trục diễn ra bên trong châu Á. Washington đang quân bình sự quan tâm truyền thống dành cho các nước Đông Bắc Á bằng sự quan tâm mới mẻ dành cho các nước Đông Nam Á, như Indonesia, Philippines, và Việt Nam, tìm cách gia tăng thương mại và đầu tư hai chiều với một số nền kinh tế sinh động nhất thế giới. Năm 2010, Washington và Jakarta đã thiết lập một “quan hệ đối tác toàn diện” để củng cố thêm sự hợp tác xuyên qua một loạt vấn đề rộng lớn, gồm y tế, khoa học, công nghệ, và doanh nghiệp.
Một tham vọng tương tự nhằm sắp xếp lại các ưu tiên của Mỹ trong khu vực này giúp giải thích những thay đổi mà Lầu Năm Góc đã thực hiện đối với thế đứng quân sự của mình tại khu vực này. Mặc dù các căn cứ quân sự Mỹ vẫn còn giữ vai trò trung tâm trong khả năng phóng chiếu quyền lực và tham chiến của Washington, nhưng càng ngày chúng càng trở nên dễ bị tấn công làm tê liệt bằng tên lửa, và chúng cũng nằm tương đối xa các vùng có tiềm năng thiên tai và khủng hoảng tại biển Hoa Nam [Biển Đông] và Ấn Độ Dương. Đồng thời, với sự kiện các nước Đông Nam Á đang bày tỏ mong muốn nhận được các chương trình huấn luyện quân sự và trợ giúp chống thiên tai của Mỹ, Hoa Kỳ đã đa dạng hóa sự hiện diện quân sự của mình trong khu vực, bằng cách đồn trú hàng trăm lính thủy đánh bộ Mỹ tại Darwin, Australia, và triển khai hai Tàu Tác chiến Gần bờ [Littoral Combat Ships] tại Singapore.
Những thay đổi này trong thế đứng quân sự của Mỹ đã bị chỉ trích hoặc là khiêu khích hoặc là vô bổ. Cả hai cáo buộc đều không chính xác. Những nỗ lực này không cho thấy Mỹ có hành vi hiếu chiến; chúng đóng góp chủ yếu cho những hoạt động trong thời bình, như phản ứng trước các thiên tai, chứ không đóng góp gì cho những khả năng tham chiến của Mỹ. Và con số có vẻ khiêm nhượng về lính thủy đánh bộ và chiến hạm được triển khai đã che giấu những ích lợi đáng kể mà họ cống hiến cho quân đội của các quốc gia đối tác với Mỹ, vốn là những nước hưởng các cơ hội vô song trong việc diễn tập và huấn luyện chung với các lực lượng Mỹ.
Trong việc xoay trục hướng về châu Á, chính quyền Obama không những tìm cách đẩy mạnh các lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ mà lại còn tìm cách làm sâu sắc thêm các quan hệ văn hóa và quan hệ giữa nhân dân với nhân dân. Chính quyền này còn hi vọng rằng chiến lược xoay trục sẽ giúp Mỹ dễ dàng hậu thuẫn nhân quyền và dân chủ trong khu vực. Đường lối mới này đã đóng góp cho những tiến bộ chính trị tại Myanmar, nơi mà chính phủ đã đi được những bước ngoạn mục, như thả tù chính trị, thực thi các cải tổ kinh tế dù chậm trễ, thúc đẩy nhân quyền và nới rộng tự do báo chí. Mặc dù cần có những biện pháp tiến bộ hơn nữa, đặc biệt trong việc bảo vệ các dân tộc thiểu số, nhưng Myanmar đã nêu một tấm gương sáng ngời của một nước từng kinh qua một thời khép kín, độc tài tàn bạo và đang triển khai những bước chuyển hóa qua chế độ dân chủ. Và ngay từ buổi đầu Hoa Kỳ đã là một đối tác thiết yếu trong nỗ lực cải tổ này.
 
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TRÒ CHƠI BÊN THẮNG BÊN THUA
Những người phản đối việc xoay trục chiến lược đã đưa ra ba lý do phản bác. Thứ nhất, một số người lo ngại rằng việc xoay trục chiến lược sẽ làm Trung Quốc giận dữ một cách không cần thiết.  Lý giải này đã không đếm xỉa đến sự kiện là việc tăng cường đối thoại với Bắc Kinh vốn là một đặc điểm trung tâm và không thể chối cãi của chính sách tái quân bình lực lượng [the rebalancing]. Trong những ví dụ điển hình của đường lối mới này, phải kể đến Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung [U.S.-China Strategic and Economic Dialogue] hàng năm, đây là một loạt hội nghị toàn diện được bộ trưởng ngoại giao và bộ trưởng tài chánh Mỹ và các quan chức đồng nhiệm Trung Quốc ngồi ghế chủ tọa, và Đối thoại An ninh Chiến lược [the Strategic Security dialogue], qua đó hai nước đã tổ chức các cuộc thảo luận cấp cao chưa từng có trước đây về các vấn đề nhạy cảm như an ninh trên biển và an ninh mạng. Các căng thẳng có thể tăng thêm do sự hiện diện quân sự Mỹ đang gia tăng tại châu Á và do việc Washington mạnh dạn bắt tay với các nước láng giềng của Trung Quốc. Nhưng các quan hệ song phương đang phát triển trong một cung cách khiến bất cứ bất đồng nào do việc xoay trục chiến lược gây ra đều có thể giải quyết trong một bối cảnh rộng lớn hơn của một mối quan hệ Mỹ-Trung ổn định và có tinh thần hợp tác hơn trước.
Phê phán thứ hai đến từ những người tranh luận rằng Washington sẽ thiếu khôn ngoan hay thiếu thực tế khi chuyển trọng tâm chiến lược từ Trung Đông sang châu Á trong khi đang có các xung đột tại Afghanistan và Syria, bất ổn chính trị tại Ai Cập và Iraq, và cuộc đối đầu trường kỳ giữa Iran và các cường quốc phương Tây. Nhưng chỉ trích này chủ yếu là một sự dè bỉu [caricature] đối với chiến lược tái quân bình lực lượng. Theo quan điểm này, Trung Đông và Nam Á đã làm suy yếu quyền lực và uy tín của Mỹ và vì thế việc xoay trục chiến lược thực ra chỉ là một mưu toan tháo chạy bằng cách hướng về những bờ biển hoà bình và dễ sinh lợi hơn của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đúng là, chính quyền Obama đã cố gắng giảm bớt sự hiện diện của Mỹ tại Trung Đông. Nhưng mặc dù các nguồn lực có giới hạn, chính sách đối ngoại không phải là một trò chơi bên thắng bên thua [a zero-sum game]. Và vì thế, luận điệu chỉ trích cho rằng việc Mỹ chuyển trọng tâm sang châu Á trong một cách nào đó chỉ là một thú nhận về thất bại chiến lược tại Trung Đông đã bỏ qua một thực tế rất quan trọng là: trong thập kỷ qua, chính các nước châu Á, mà hiện nay Washington muốn chú trọng hơn, đã lặng lẽ đóng góp phần mình vào việc duy trì hòa bình và ổn định khắp Trung Đông và Nam Á và chính các nước này cũng rất muốn Mỹ duy trì ảnh hưởng tại các khu vực này.
Trước đây không lâu, hầu hết các quốc gia châu Á chỉ biết quan tâm đến việc phát triển trong nước và coi các vấn đề nước ngoài như là trách nhiệm của một ai khác. Một trong những thành công quan trọng nhất của chính sách châu Á của Tổng thống George W. Bush là khuyến khích các cường quốc đang trỗi dậy của khu vực này đóng góp nhiều hơn cho các nơi khác trên thế giới. Để hưởng ứng một phần nào, trong những năm cầm quyền của Bush, lần đầu tiên, nhiều chính phủ Đông Á đã phát triển một tầm nhìn “ra ngoài khu vực” và tham gia tích cực hơn trong các lãnh vực ngoại giao, phát triển, và an ninh tại Trung Đông và Nam Á. Nhật Bản đã trở thành nước hậu thuẫn dẫn đầu trong nỗ lực phát triển xã hội dân sự tại Afghanistan, tài trợ các trường học và các cơ quan dân sự trong chính phủ và huấn luyện người Afghanistan trong các lãnh vực như pháp lý hình sự, giáo dục, y tế, và nông nghiệp. Trong thời kỳ tiếp theo sau Mùa Xuân Á Rập, Nam Hàn bắt đầu yểm trợ các chương trình phát triển khắp Trung Đông. Indonesia, Malaysia, và Thái Lan đã giúp đỡ vật chất cho các chương trình huấn luyện bác sĩ, cảnh sát, và giáo viên tại Afghanistan và Iraq, trong khi Australia và New Zealand gửi lực lượng đặc biệt đến chiến đấu tại Afghanistan. Thậm chí cả Trung Quốc cũng tích cực hơn trong chính sách ngoại giao ở hậu trường nhằm hạn chế các tham vọng hạt nhân của Iran, đối phó nạn cướp biển, và ảnh hưởng lên tương lai của Afghanistan.
Hẳn nhiên, sự động viên của Washington chỉ là một yếu tố ở đằng sau việc các nước châu Á dính líu ngày càng sâu sắc tại Trung Đông; một yếu tố không thể chối cãi khác là sự thèm khát dầu khí từ Vịnh Ba Tư của các nước này ngày càng gia tăng. Châu Á tiêu thụ khoảng 30 triệu thùng dầu một ngày, nhiều hơn gấp đôi lượng dầu mà EU tiêu thụ. Các chính phủ châu Á biết rằng một cuộc rút lui vội vàng của Mỹ ra khỏi Trung Đông sẽ mang lại nhiều rủi ro không thể chấp nhận đối với an ninh năng lượng và tăng trưởng kinh tế của nước họ. Do đó, họ đã đầu tư vốn liếng chính trị và tài chính đáng kể vào Trung Đông và trong vài trường hợp đã gửi các lực lượng quân sự đến đây trên một thập kỷ qua để bổ sung, chứ không thay thế, vai trò của Mỹ trong việc làm ổn định khu vực. Nói giản dị là, các đối tác châu Á của Mỹ hậu thuẫn việc xoay trục chiến lược nhưng sẽ không hân hoan chào đón viễn cảnh Mỹ rút khỏi Trung Đông – và điều quan trọng là, hình như họ không hề thấy một chút mâu thuẫn nào giữa hai lập trường này.
Luận cứ thứ ba chống lại việc chuyển trục chiến lược liên quan đến tính bền vững của đường lối này trong một thời điểm mà Mỹ phải cắt giảm ngân sách: trong khi chi tiêu quốc phòng giảm sút, những người hoài nghi tự hỏi làm sao Mỹ có thể đầu tư nguồn lực cần thiết để trấn an các đồng minh châu Á của mình và can ngăn các nước thù địch tiềm năng, đặc biệt trong khi quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc tiếp tục gia tăng. Câu trả lời là, chính sách tái quân bình lực lượng hướng về châu Á sẽ không đòi hỏi một ngân sách mới cực kỳ tốn kém; nói đúng ra, Lầu Năm Góc chỉ cần linh động hơn và tìm cách chi tiêu hiệu quả hơn. Chẳng hạn, trong khi giảm bớt kích cỡ tổng thể của quân đội, Mỹ cần phải duy trì sự hiện diện quân sự tại châu Á và phải đầu tư vào các khả năng hải quân và không quân thích hợp hơn đối với môi trường an ninh của khu vực này. Vì chi tiêu quốc phòng của Mỹ không thể gia tăng đáng kể trong một tương lai gần, Washington cần phải làm nhiều hơn để cải thiện khả năng của các quân đội châu Á, bằng cách tiến hành thêm các trao đổi giáo dục và nghiệp vụ, cải tiến các cuộc diễn tập quân sự đa phương, chuyển giao các thiết bị mà quân lực Mỹ không cần đến nữa, và tham gia tích cực hơn vào việc thảo kế hoạch chung.
 
VIỆC QUÂN BÌNH GIỮA CÁC QUAN TÂM
Mặc dù các luận cứ thông thường nhất để chống lại chính sách tái quân bình lực lượng không thể đứng vững nếu đem ra khảo sát kỹ lưỡng, nhưng chính sách này đang gặp nhiều thử thách to lớn. Có lẽ thử thách lớn nhất là thiếu vốn nhân sự [human capital]. Sau hơn một thập kỷ chiến tranh và chống nổi dậy, Mỹ đã phát triển và thăng thưởng nguyên cả một thế hệ binh sĩ, các nhà ngoại giao, và chuyên viên tình báo am tường về xung đột chủng tộc tại Iraq, về những bất đồng giữa các bộ tộc tại Afghanistan, về các chiến lược tái thiết hậu chiến, và về các chiến thuật của Lực lượng Đặc biệt Mỹ và máy bay con ong [máy bay oanh kích không người lái]. Nhưng Washington chưa có một nỗ lực tương tự nào nhằm phát triển một đội ngũ chuyên viên châu Á vững vàng trong các ban ngành chính phủ — một con số đáng kinh ngạc gồm các quan chức cao cấp trong chính phủ chỉ mới đi thăm châu Á lần đầu sau khi họ nắm giữ các chức vụ quan trọng ở một giai đoạn họ gần thôi việc. Đây đúng là chỗ yếu kém của ngành ngoại giao Mỹ, vì ngay cả một công chức thành đạt nhất cũng thấy khó khăn khi lèo lái công việc qua các vấn đề phức tạp của châu Á nếu chưa có kinh nghiệm trước tại khu vực này. Chính sách xoay trục chiến lược hướng về châu Á vì thế sẽ ảnh hưởng đến ngân sách của các cơ quan dân sự trong chính phủ, không chỉ riêng cơ quan dân sự của Lầu Năm Góc, khi Mỹ đầu tư nhiều hơn vào các nỗ lực để đảm bảo rằng các nhà ngoại giao, các nhân viên cứu trợ, các nhà thương thuyết mậu dịch, và các chuyên gia tình báo Mỹ có đầy đủ các kỹ năng ngôn ngữ và kinh nghiệm tại châu Á, mà họ sẽ cần đến để thực hiện tốt công tác của mình.
Chính sách xoay trục hướng về châu Á cũng sẽ vật lộn với một loạt khủng hoảng thường xuyên mà các khu vực khác — đặc biệt là Trung Đông — chắc chắn sẽ tiếp tục cung cấp. Đồng thời, sức ép đòi hỏi phải “trở về với công việc nội bộ” dường như chắc chắn sẽ gia tăng. Tiếp theo sau mỗi cuộc chiến mà Mỹ tham gia trong thời hiện đại, từ Thế chiến I đến Chiến tranh vùng Vịnh 1990-1991, công chúng Mỹ gây áp lực lên các nhà chính trị và quan chức chính phủ buộc họ phải tái tập trung vào các vấn đề trong nước. 13 năm chiến tranh vừa qua một lần nữa lại đánh thức bản năng cô lập này, vốn đã được nuôi dưỡng bởi một cuộc phục hồi kinh tế chậm chạp sau khủng hoảng tài chính, khiến nhiều người thất vọng. Mặc dù khuynh hướng quốc tế chủ nghĩa và xu thế đòi hỏi một quốc phòng mạnh vẫn còn tồn tại trong chính trường Mỹ, nhưng có những dấu hiệu tế nhị (và không tế nhị) tại Quốc Hội cho thấy rằng có lẽ Mỹ đang bước vào một kỷ nguyên mới, trong đó việc Mỹ dấn thân vào những cam kết ở nước ngoài – ngay cả tại những vùng trọng yếu đối với sức mạnh kinh tế Mỹ, như châu Á – cũng khó được chấp nhận hơn trước. Những hạn chế chính trị này sẽ làm cho một dự án vốn đã khó khăn trở thành khó khăn hơn: trước các vấn đề châu Á, danh mục những việc Mỹ cần thực hiện tại đây còn dài, không những cho những năm còn lại của chính quyền Obama mà cả cho chính quyền tiếp theo.
 
NHỮNG ĐỐI TÁC TRONG CHÍNH SÁCH XOAY TRỤC CHIẾN LƯỢC
Tại châu Á, kinh tế và an ninh khu vực là hai vấn đề kết hợp không thể tách rời nhau, do đó Mỹ không thể duy trì vai trò lãnh đạo của mình chỉ bằng sức mạnh quân sự mà thôi. Đó là lý do tại sao việc ký kết thành công Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) — sẽ đòi hỏi những cuộc đàm phán căng thẳng ở nước ngoài và tại Quốc Hội Mỹ — là một ưu tiên hàng đầu. Hiệp định này sẽ nhanh chóng mang lại lợi ích cho kinh tế Mỹ và sẽ khai sinh một hệ thống thương mại lâu dài tại châu Á, một hệ thống không bị chế độ bảo hộ mậu dịch làm trì trệ. Để Hoa Kỳ có thêm sức mạnh đòn bẩy trong các cuộc thương thuyết, Quốc Hội Mỹ phải nhanh chóng phục hồi quyền thúc đẩy thương mại [TPA] bằng đường lối nhanh nhất. Dưới hệ thống này, sau khi thương thuyết xong TPP và các hiệp ước tự do mậu dịch khác, Nhà Trắng có thể đệ trình chúng trước Quốc Hội để lấy phiếu “thuận hay không thuận” [up-or-down votes], theo đó Quốc Hội không thể sửa đổi [amend] hay tranh luận câu giờ nhằm vô hiệu hóa chúng [filibuster]. Chính quyền Obama còn phải tận dụng sự phát triển nhanh chóng của ngành năng lượng Mỹ và tăng tốc việc xuất khẩu khí thiên nhiên ở thể lỏng [liquified natural gas] sang châu Á để cải thiện an ninh năng lượng của các nước đồng minh và đối tác tại đây và để gửi một tín hiệu mạnh mẽ về sự cam kết của Mỹ đối với sự phát triển của khu vực này.
Sự hợp tác luôn luôn được củng cố giữa Washington và Bắc Kinh đã mang lại nhiều kết quả khi hai nước ngày càng phối hợp đường lối của mình đối với Iran và Bắc Hàn đồng thời quản lý các khủng hoảng tiềm năng tại biển Hoa Nam [Biển Đông]. Nhưng Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi lèo lái các mối quan hệ với một Trung Quốc đang trỗi dậy mà hiện nay vừa là một “đối tác chiến lược” [a strategic partner], như Tổng thống Bill Clinton mô tả năm 1998, vừa là một “đối thủ chiến lược” [a strategic competitor], như về sau Bush đã gọi.
Những âm mưu của Trung Quốc nhằm thay đổi nguyên trạng lãnh thổ [the territorial status quo] tại biển Hoa Đông và biển Hoa Nam [Biển Đông] – chẳng hạn, bằng cách thiết lập một “khu nhận diện phòng không” tại biển Hoa Đông trùm lên các đảo do Nhật Bản quản lý hành chánh – đang đặt ra một thách thức trước mắt. Mỹ sẽ phải làm rõ với Trung Quốc rằng hành vi xét lại này là không phù hợp với các quan hệ ổn định Mỹ-Trung, lại càng không phù hợp “với loại quan hệ đại cường” mới nhất mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã đề xuất với Obama. Gần đây Washington đã đi một bước đúng hướng khi các quan chức cao cấp trong chính quyền công khai chất vấn tính hợp pháp trong những tuyên bố chủ quyền có tính cách bành trướng của Trung Quốc và đưa ra cảnh báo chống lại việc thành lập một khu nhận diện phòng không tại biển Hoa Nam [Biển Đông].
Bên bờ kia của biển Hoa Đông, Thủ tướng Shinzo Abe đang tìm cách lèo lái Nhật Bản ra khỏi nhiều thập niên trì trệ kinh tế và gieo vào đầu óc người dân một ý thức mới mẻ về niềm tự hào và thanh thế của Nhật Bản. Washington sẽ phải tiếp tục thúc đẩy Tokyo hành động tự chế và tránh gây tổn thương, đặc biệt liên quan đến các tranh cãi về quá khứ đế quốc của Nhật Bản. Gần đây, Abe đã đến thăm Đền Yasukuni, nơi thờ một số tử sĩ bị kết án về các tội phạm chiến tranh mà họ đã gây ra trong Thế chiến II. Cuộc thăm viếng này có thể đã giúp ông về mặt chính trị trước một số khối cử tri trong nước, nhưng gây ra những tổn thất lớn trên trường quốc tế: nó nêu lên những nghi vấn tại Washington, làm xấu thêm các quan hệ giữa Nhật Bản và Nam Hàn, đồng thời khiến Trung Quốc trở nên kiên quyết hơn trong thái độ không muốn giao hảo trực tiếp với Nhật Bản chừng nào mà Abe còn cầm quyền.
Giữa bối cảnh ngoại giao căng thẳng này, Mỹ sẽ làm việc với Lực lượng Tự vệ Nhật Bản [tương đương Bộ Quốc phòng] với mục đích là Nhật Bản sẽ đóng một vai trò an ninh tích cực hơn trong khu vực và trên thế giới. Trong nỗ lực này có cả việc chống lại tuyên truyền của Trung Quốc khi họ lên án việc Nhật Bản giải thích lại hiến pháp và hiện đại hóa quân đội là phản động và quân phiệt, mặc dù trên thực tế, đây là những biện pháp hoàn toàn hợp lý – đáng lẽ phải thực hiện từ lâu. Mỹ cũng phải tiếp tục dồn một số vốn chính trị đáng kể cho việc cải thiện quan hệ giữa Nhật Bản và Nam Hàn; vì một quan hệ hữu nghị bền vững hơn giữa hai nước này sẽ có lợi cho việc đương đầu với mối đe dọa to lớn và đang gia tăng do Bắc Hàn đặt ra.
Những thách thức tại Đông Nam Á là hoàn toàn khác hẳn với những thách thức tại Đông Bắc Á, nhưng chúng không kém phần quan trọng đối với các lợi ích quốc gia của Mỹ. Một số nước Đông Nam Á, kể cả Campuchia, Malaysia, Myanmar, và Thái Lan, đang trải qua các mức độ xáo trộn chính trị khác nhau có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của từng nước. Khi khủng hoảng xảy ra, Washington phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản về dân chủ và nhân quyền nhưng không làm điều này một cách giáo điều hoặc bằng những cung cách có thể làm suy giảm lợi thế và ảnh hưởng của Mỹ. Thay vì đánh cược vào những phe phái có khả năng nắm quyền lực, đường lối hay nhất của Mỹ sẽ là tập trung vào các vấn đề mà người dân bản xứ cho là quan trọng nhất tại khu vực này bất luận ai là kẻ cầm quyền, những vấn đề như giáo dục, xóa đói giảm nghèo, và đối phó thiên tai.
Ngoài việc gia tăng sự tham dự của Mỹ vào các diễn đàn đa phương tại châu Á, Washington phải hậu thuẫn sự phát triển của một trật tự khu vực dựa vào luật lệ bằng cách đặt toàn bộ trọng lượng của mình đằng sau các nỗ lực sử dụng luật pháp và trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền tại biển Hoa Nam [Biển Đông]. Philippines đã đưa yêu sách chủ quyền của mình trong tranh chấp với Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển. Mặc dù Mỹ (tạm thời) không đưa ra các phán đoán về giá trị của các yêu sách chủ quyền riêng biệt, nhưng Washington cũng phải đóng góp cho việc xây dựng một đồng thuận quốc tế bằng cách kêu gọi mọi quốc gia công khai hậu thuẫn cơ chế này, vì tòa án về luật biển là một phép thử để xem khu vực này có sẵn sàng quản lý các tranh chấp của mình thông qua các phương tiện pháp lý và hòa bình hay không.
Hoa Kỳ không thể một mình tái quân bình lực lượng hướng về châu Á. Điều thiết yếu là phải kéo theo các nước châu Âu, tức những nước có thể đóng góp đáng kể trong các lãnh vực như luật pháp quốc tế và xây dựng các định chế. Nếu phương hướng chung của các mối quan hệ song phương cho phép, Washington còn phải thăm dò các cơ hội để tìm sự hợp tác tích cực hơn nữa với Ấn Độ và Nga về các vấn đề Đông Á.  Và hẳn nhiên, còn có một yếu tố cần thiết khác là các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước Đông Nam Á, phải chứng tỏ vai trò lãnh đạo và sáng kiến của mình để bổ túc cho những nỗ lực của Mỹ. Trọng điểm của chính sách xoay trục hướng về châu Á là duy trì một khu vực cởi mở, hòa bình, và thịnh vượng, trong đó các chính phủ phải dựa vào các luật lệ, qui phạm, và định chế để giải quyết các bất đồng, chứ không sử dụng sức ép và vũ lực. Xoay trục chiến lược là một sáng kiến của Mỹ, nhưng sự thành công nhiên hậu của nó sẽ không hoàn toàn tùy thuộc vào Washington.
 
KURT M. CAMPBELL là Chủ tịch và Tổng Giám đốc của Asia Group. Từ 2009 đến 2013, ông là Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách các Vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. ELY RATNER là Nhà Nghiên cứu Thâm niên và là Phó Giám đốc của Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm vì một Nền An ninh Mới của Mỹ [the Center for a New American Security].
Ảnh: Thay đổi tầm nhìn: Một công nhân đang lau cửa kính của một cao ốc trong khu thương mại trung tâm của Thủ đô Bắc Kinh, 4 tháng Tư 2007 (ảnh của Reinhard Krause/Courtesy Reuters)

Thi đấu và cầu nguyện

brazil_getty

Thi đấu và cầu nguyện

Thỉnh thoảng ta thấy trong một trận đấu Worldcup, một cầu thủ vừa đá được một quả vào khung thành địch, anh ta liền làm dấu thánh giá cám ơn Chúa tức thì. Hoặc khi đoàn cầu thủ bắt đầu đi vào sân bóng, các bạn sẽ thấy nhiều cầu thủ, kể cả Lionel Messi của Argentina, làm dấu thánh giá.
Tấm ảnh bên trên là ảnh đội Brazil cầu nguyện trước khi đấu.
Nhiều vận động viên sẽ nói với bạn rằng cầu nguyện giúp họ bình tĩnh và đấu hay hơn.
Đương nhiên là như vậy. Nếu bạn tin rằng Chúa đang hỗ trợ bạn, bạn sẽ bình tĩnh, hăng hái, và do đó đấu hay hơn.
Nhưng còn một điểm quan trọng hơn cả thi đấu. Đó là con người của bạn. Nếu bạn cầu nguyện và trông cậy vào Chúa như thế, thì đương nhiên bạn sẽ là người khiêm tốn, vì bạn sẽ không nói là bạn siêu sao nên thắng, mà bạn sẽ nói bạn chỉ bình thường nhưng Chúa đã giúp bạn thắng. Đó là khiêm tốn.
Cầu nguyện, hay nói đúng hơn là lòng tin vào cầu nguyện, giúp con người khỏe mạnh, khi bệnh thì chóng lành hơn người không cầu nguyện, khi phải chiến đấu trong những trận chiến khó khăn thì bình tĩnh và tập trung hơn.
Cầu nguyện hiệu lực trong mọi nền văn hóa, mọi truyền thống tâm linh, dù bạn theo tôn giáo nào, hay không theo tôn giáo nào mà vẫn cầu nguyện với “trời đất thánh thần” chung chung.
Có một liên hệ trực tiếp và tích cực giữa lòng tin của chúng ta và hệ thần kinh, hệ miễn nhiễm, và mọi hệ thống khác trong cơ thể của chúng ta.
Vấn đề Chúa/Phật có thật không, không quan trọng, vì Chúa/Phật hiện hữu một cách chủ quan trong trái tim của mỗi người. Điều quan trọng là nếu bạn có lòng tin, thì lòng tin đó sẽ giúp bạn mạnh mẽ hơn và dễ chiến thắng hơn rất nhiều.
Chúc các bạn luôn có lòng tin.

baoleduong.

TUYÊN BỐ THÀNH LẬP HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP VIỆT NAM

TUYÊN BỐ THÀNH LẬP HỘI NHÀ BÁO ĐỘC LẬP VIỆT NAM


Sài Gòn ngày 4 tháng 7 năm 2014
Làm thế nào để báo chí và các nhà báo cất được tiếng nói theo đúng nghĩa của hai từ “tự do”? Làm thế nào để báo chí được làm đúng thiên chức của mình, phản biện và xây dựng một xã hội công bằng, một đất nước thật sự độc lập tự chủ, không cúi đầu hoặc run sợ trước hiểm họa ngoại xâm đang quá cận kề?
Đã đến lúc báo chí và các nhà báo Việt Nam cần có tư cách độc lập để trả lời những câu hỏi trên. Tuân theo kinh nghiệm của mọi xã hội dân sự tiến bộ nhất trên thế giới, một trong những giải pháp cần phải có là Hội Nhà báo độc lập Việt Nam.

1* Quan điểm thành lập:
- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam (tiếng Anh: Independent Journalists Association of Vietnam - IJAVN) là tổ chức xã hội dân sự nằm trong xã hội dân sự Việt Nam, vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ và đa nguyên, văn minh và giàu mạnh.
- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động trên cơ sở:
+ Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là một thành viên có nghĩa vụ tuân thủ.
+ Các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội được minh định trong Hiến pháp Việt Nam.
- Thông qua hoạt động báo chí, Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc ôn hòa, bất bạo động; tôn trọng đa nguyên chính trị; phi lợi nhuận; hướng đến mục tiêu cổ súy cho tự do của người dân và dân chủ cho toàn xã hội, đóng góp ý kiến phản biện dưới dạng các tác phẩm báo chí và diễn đàn ngôn luận cho xã hội và đất nước.
- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường sinh hoạt trí tuệ và lành mạnh cho các hội viên và những người yêu thích nghề báo, đặc biệt là những người trẻ, nhằm thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí.
- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam gồm những người có quá trình hoạt động báo chí không phân biệt quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, độ tuổi; không phân biệt người trong nước và ngoài nước; tự nguyện dấn thân vì tự do báo chí, vì một nền dân chủ thật sự, vì tiến bộ xã hội và hạnh phúc người dân.
- Hội Nhà báo độc lập Việt Nam độc lập về quan điểm, nhân sự, tài chính…

2* Mục đích thành lập:
- Phản ánh trung thực và sâu sắc những vấn đề nóng bỏng của xã hội và đất nước.
- Phản biện đối với những chính sách bất hợp lý của nhà nước liên quan đến quản lý xã hội và tự do báo chí.
- Tổ chức trao đổi, đối thoại với các cấp chính quyền về tự do báo chí và quản lý xã hội khi có điều kiện, đồng thuận với những chính sách, giải pháp hợp lòng dân và có lợi cho đất nước.
- Hỗ trợ về tinh thần và vật chất, hoạt động tương thân tương ái giữa các hội viên.
- Lên tiếng và có hành động cần thiết để bảo vệ những người làm báo vì tiến bộ xã hội, nhưng bị sách nhiễu, bắt bớ, tù đày, khủng bố… Đấu tranh yêu cầu Nhà nước Việt Nam hủy bỏ những điều luật mơ hồ của Bộ luật hình sự được dùng để áp chế tự do báo chí như Điều 258, 88…
- Thu hút và đào tạo cây viết trẻ nhằm đóng góp cho nền báo chí chuyên nghiệp Việt Nam trong tương lai.
- Thu hút và tạo môi trường sinh hoạt cho các nhà báo và cộng tác viên báo chí, không phân biệt báo nhà nước hay truyền thông xã hội.

3* Những nội dung hoạt động chính:
- Sinh hoạt định kỳ và đột xuất về thông tin thời sự. Trao đổi về phương hướng và chủ đề viết.
- Tổ chức tọa đàm, hội thảo về một số chủ đề quan trọng của xã hội và đất nước.
- Xây dựng lực lượng làm báo trẻ để tạo lớp kế thừa cho lớp nhà báo lớn tuổi.
- Lên tiếng kịp thời về những trường hợp người dân và nhà báo bị xâm hại.
- Chuyển tải những vấn đề nóng bỏng và cấp thiết của đất nước, xã hội ra hệ thống truyền thông quốc tế.
- Liên kết và hợp tác với những tổ chức chính phủ và phi chính phủ quốc tế về báo chí.
- Vận hành một trang báo mạng dành cho các nhà báo và cộng tác viên.

4* Cơ cấu tổ chức:
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có Ban lãnh đạo gồm chủ tịch và một số phó chủ tịch, ủy viên. Ban lãnh đạo được phân công điều hành theo các công việc và theo khu vực.

Ban lãnh đạo:
- Chủ tịch: Nhà báo Phạm Chí Dũng. Phụ trách chung các hoạt động của Hội. 
 Email: phamchidungsg@gmail.com
- Phó chủ tịch thường trực: Nhà báo, linh mục Anton Lê Ngọc Thanh. Phụ trách khu vực miền Nam và trang báo của Hội. Email: naygum@gmail.com
- Phó chủ tịch: Nhà báo Nguyễn Tường Thụy. Phụ trách khu vực miền Bắc.
 Email: tuongthuy52@gmail.com
- Phó chủ tịch: Nhà báo Bùi Minh Quốc. Phụ trách khu vực miền Trung. 
 Email: bmquoc40@gmail.com
- Ủy viên: Nhà báo Ngô Nhật Đăng. Trị sự hai trang báo: Việt Nam Thời Báo và Vietnam Times 
 Email: dangngonhat@gmail.com hoặc vietnamtimes00@gmail.com

Cơ cấu ban:
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có một số ban chuyên môn và trang báo là cơ quan ngôn luận của Hội.
Hội Nhà báo độc lập Việt Nam mời gọi những người làm báo có tâm nguyện với dân tộc tham gia vào Hội, chung sức làm mọi việc có ích cho quê hương.
Mọi liên hệ, ghi tên tham gia và ủng hộ Hội Nhà báo độc lập Việt Nam xin gửi về các địa chỉ email: hoinhabaodoclapvietnam@gmail.com

TỜ BÁO CỦA HỘI: Việt Nam Thời BáoVietnam Times 

Vì sao VN thần phục TQ

 
Bối cảnh vì sao VN thần phục TQ
 
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.

Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”.

Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.

Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh giễu võ giương oai của “Cộng Hoà Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy”.

Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!

“Trước tình hình ấy”, Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến… phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tàu.

Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xoá bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hoà trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”; vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội”. Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau:

“Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc… Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin…”. Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!”

Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể:

“Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc…” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xoá bỏ cộng sản. Nó đang xoá ở Ðông Âu… Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc”.

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết:

“Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ‘người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh…”.

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù không ai biết chủ nghĩa đó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an trị và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể: “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hoà Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: ‘Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa…’”

Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam”. Trần Quang Cơ thuật lại: “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị… ‘Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội…’” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tàu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến lên chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

“Ái quốc hoá ra thành phản quốc,
Ngàn thu mối hận dễ nào phai.”
(Báo Mai)